Trình bày công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa của đảng Cộng sản đông Dương và nhân dân Việt Nam kể từ sau Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5/1941). Nêu ý nghĩa của công cuộc chuẩn bị đó

1. Xây dựng lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang 

a) Xây dựng lực lượng chính trị:

  • Nhiệm vụ cấp bách: vận động quần chúng tham gia Việt Minh. Cao Bằng là nơi thí điểm xây dựng các Hội Cứu quốc. Năm 1942 khắp 9 châu của Cao Bằng đều có Hội Cứu quốc. Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng được thành lập.
  • Ở miền Bắc và miền Trung, các “Hội phản đế” chuyển sang các “Hội cứu quốc”, nhiều “Hội cứu quốc” mới được thành lập.
  • Năm 1943, đảng đưa ra bản “đề cương văn hóa Việt Nam” và vận động thành lập Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam (cuối 1944) và đảng dân chủ Việt Nam đứng trong Mặt trận Việt Minh (6/1944). đảng cũng tăng cường vận động binh lính Việt và ngoại kiều đông Dương chống phát xít.

b) Xây dựng lực lượng vũ trang:

Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích Bắc Sơn thành lập, hoạt động tại căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai. Năm 1941, các đội du kích Bắc Sơn thống nhất thành Trung đội Cứu quốc quân số I (01/05/1941), phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng. Ngày 15/9/1941, Trung đội Cứu quốc quân II ra đời.

c) Xây dựng căn cứ địa cách mạng: 2 căn cứ địa đầu tiên của cách mạng nước ta là:

  • Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11/1940) chủ trương xây dựng Bắc Sơn – Võ Nhai thành căn cứ địa cách mạng.
  • 1941, sau khi về nước, Nguyễn Ai Quốc chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa.
  • Từ 1943, cuộc chiến tranh thế giới chuyển biến có lợi cho cách mạng, sự thất bại của phát xít đã rõ ràng, đảng đẩy mạnh chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền.

2. Công tác chuẩn bị Tổng khởi nghĩa 

  • Tháng 02/1943, Ban Thường vụ Trung ương đảng họp vạch ra kế hoạch chuẩn bị toàn diện cho khởi nghĩa vũ trang. Khắp nông thôn, thành thị miền Bắc, các đoàn thể Việt Minh, các Hội Cứu quốc được xây dựng và củng cố .
  • Ở căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai, Trung đội cứu quốc quân III ra đời (25/02/1944).
  • Ở căn cứ Cao Bằng, các đội tự vệ vũ trang, đội du kích thành lập. Năm 1943, 19 ban xung phong “Nam tiến” được lập ra để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai và phát triển lực lượng xuống miền xuôi .
  • 07/05/1944: Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “sửa soạn khởi nghĩa”
  • 22/12/1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập. Hai ngày sau, đội thắng hai trận Phay Khắt và Nà Ngần.

3. Ý nghĩa

  • Lực lượng chính trị và vũ trang cả nước được xây dựng và phát triển mạnh, sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ đến.
  • Công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền được tiến hành gấp rút, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng.
Đánh giá

BÀI HAY NÊN ĐỌC