Sự tích động Từ Thức

Truyện cổ tích Việt Nam

SỰ TÍCH ĐỘNG TỪ THỨC

Ngày xửa ngày xưa, ở Châu Ái thời nhà Trần có chàng trai trẻ tên Từ Thức, vốn là con trai của một nhà quan. Đến năm 20 tuổi, chàng nhờ vào học giỏi nên đi thi được đỗ cao, sau đó được bổ nhiệm trở thành tri huyện tại một huyện ở vùng Bắc. Từ Thức khác hẳn với những bọn quan lại khác cùng thời, chàng là một người vô cùng phóng khoáng, lại chẳng bao giờ chịu sự ràng buộc bởi những khuôn phép vốn có. Hơn nữa là chàng rất không thích mấy chuyện như nịnh trên rồi nạt dưới, hứng thú của chàng chỉ là uống rượu và ngâm thơ, rồi lại đi chơi mà ngắm cảnh thôi.

Ở gần huyện mà Từ Thức tới nhậm chức có một ngôi chùa rất lớn. Ở ngay trước sân chùa cùng với chung quanh vườn chùa toàn bộ đều trồng cùng một loại mẫu đơn. Vào khoảng tầm tháng Giêng hằng năm chính là mùa để hoa nở rộ, đó cũng là thời điểm kỳ cúng Phật đã tới. Nhân dịp ấy thì các thiện nam cùng tín nữ ở khắp mọi nơi đều đua nhau về đây để lễ Phật, ngắm hoa. Bởi vậy nên người ta còn gọi đây là hội xem hoa, hoặc gọi nó là hội mẫu đơn.

Một năm nọ vào đúng kỳ hội xem hoa, bỗng niên Từ Thức có cái hứng thú đi hành hương để ngắm cảnh. Vì không muốn làm kinh động tới dân chúng nên Từ Thức liền cải trang trở thành một anh học trò. Đồng thời chàng cũng không đem theo lính hầu cũng như cáng xá theo bên mình. Thời này bởi vì nhiều chùa chiền rất được triều đình nể nang, kính trọng nên có không ít sư sãi cậy thế mà hoành hành ngang dọc.

Để bảo vệ cho những khóm hoa trong chùa thì chùa liền đặt ra một lệ là ai bẻ hoa hay là làm gãy cây thì sẽ bị phạt vạ bằng một khoản tiền. Nếu như người đó không có tiền để nộp phạt vạ thì nhà chùa lập tức bắt người đó làm nô để mà đền nợ.

Vào ngày hôm ấy, một cô gái cũng tới xem hội, cũng chỉ vô tình mà không rõ lệ của nhà chùa, nhìn thấy những bông hoa nở rộ xinh đẹp ngay bên những lối đi thì vươn tay ngắt ngay một bông. Bọn thủ hộ ở trong chùa nhìn thấy liền xông ra và bắt giữ ngay cô gái ấy đòi tiền phạt vạ. Nhưng cô gái ấy lại nói là đi xem hội nên không có mang theo tiền bạc gì, bây giờ trên người cũng không có đồ gì quý giá để mà đền cho chùa. Đám thủ hộ nghe xong lập tức trói gô cô gái ấy vào cột chùa để mà làm nhục, ép vặn cho cô phải đưa ra tiền chuộc mới thôi.

Vào đúng lúc ấy thì Từ Thức cũng tiến vào trong cổng chùa. Chàng trông thấy một cô gái vẻ yếu đuối bị cả đám vũ phu xúm vào lăng nhục, chàng lúc này cũng không thể nào ngăn được cơn tức giận của bản thân. Từ Thức lập tức chạy tới yêu cầu đám người kia cởi trói thả cô gái ấy ra. Nhưng mà đám thủ hộ thì nhất định không chịu thả, còn chỉ thẳng vào mặt của chàng mà nói:

– Nếu như anh không có được một quan tiền để mà chuộc thì chớ có đụng tới cái dây trói, kẻo sinh ra lắm chuyện rầy rà đừng trách.

Từ Thức nghe xong những lời thách thức ngông cuồng của đám thủ hộ thì cơn giận lúc này cứ bừng bừng mà bốc cháy. Chàng toan dùng tới chức vị của bản thân để mà trị cái đám bất lương này, nhưng sau đó chàng lập tức gạt đi bởi vì cũng chẳng muốn xé to chuyện này làm gì. Chẳng nghĩ ngợi nhiều, chàng cởi luôn chiếc áo ngoài của mình rồi ném cho đám thủ hộ kia để mua lại tự do của cô gái. Khi dây trói vừa được cởi ra, cô gái hết lời cảm tạ sự giúp đỡ của Từ Thức. Vì thấy nàng rất xinh đẹp, tính cách cũng bạo dạn, vì vậy Từ Thức cũng có ý muốn được làm quen. Vì vậy chàng liền hỏi:

– Nhà nàng ở nơi nào? Tôi nghe giọng của nàng thì hình như là không phải người ở vùng này thì phải?

Cô gái cũng đáp lại lời chàng:

– Quê của thiếp ở mãi trong Châu Ái thuộc huyện Tống Sơn…

Từ Thức không ngờ tới người đẹp này lại là người cùng quê với mình, vì vậy chàng lại càng thêm niềm nở hơn. Sau đó hai người cùng nhau men theo lối ra cổng chùa, rồi vừa đi lại vừa đôi câu ngỏ lời tâm sự với nhau. Trước lúc nói lời giã từ, nàng cũng không quên ngỏ lời mời Từ Thức nếu có dịp trở về thăm quê thì hãy ghé qua nhà nàng chơi.

Vốn không hề ưa cái nghề dùng roi vọt để trị dân nên Từ Thức thường xuyên bị cái bọn quan trên giở thói hạch tội đủ đường. Một lần nọ vì chàng để chậm trễ vụ thuế nên viên an phủ liền gọi chàng tới để trách mắng rất nặng lời. Chàng chán nản mà than thở:

– Ta há lại chỉ vì mấy bó thóc rồi chịu nhục đủ đường như vậy sao!

Lúc nàng trở lại huyện lỵ, chẳng ngần ngại chút nào, chàng cởi bỏ hết ấn tín rồi treo ngay trước mái của công đường, sau đó thì bỏ đi. Chàng đi thẳng một mạch trở về nơi quê hương đất tổ để thăm nom cha mẹ mình cũng như bà con láng giềng. Chàng cũng chỉ ở lại nhà ít lâu, rồi nhớ tới lời mời tới chơi nhà của cô gái xinh đẹp ở hội xem hoa ngày trước, vì thế chàng lại cất công đi xa.

Chàng cứ đi theo lời chỉ dẫn của cô gái ngày ấy, cứ thế mà lặn lội đi kiếm tìm rất lâu, nhưng mà vẫn mịt mù, chẳng thấy bóng chim hay tăm cá gì cả. Ở vùng Tống Sơn ấy có bao nhiêu là cảnh đẹp thì nơi nào cũng in lại dấu chân cùng những bài ca bài vịnh của chàng, dù vậy chàng vẫn không hề cảm thấy ân hận một buổi gặp gỡ cùng người đẹp khi xưa. Và chàng cũng không hề nản lòng, vẫn cất công tìm kiếm mãi.

Trên đường tìm kiếm, vào sáng sớm của một ngày nọ, Từ Thức trèo lên tận đỉnh núi cao nhất, rồi ra cửa Thần Phù. Đột nhiên trước mắt của chàng xuất hiện một hòn đảo nhìn y như một đóa hoa sen ở giữa vùng biển cả bao la vậy. Chàng đứng lại ngắm nhìn rất say sưa, sau đó lập tức tìm lấy một cánh buồm mà dong ra khơi xa.

Cũng không mất quá nhiều thời gian thì thuyền cùng cập bến đảo. Chàng lại mải mê nhìn khung cảnh chung quanh, rồi bỗng trông thấy ở ngay nơi sườn đá hình như có một cái cửa hang khá rộng rãi, chàng liền vạch cây và rẽ cỏ để tìm tới tận nơi ấy. Khi chàng bước vào trong cửa hang một đoạn thì cửa hang đột nhiên tối sầm đi. Nhưng Từ Thức thì vẫn cứ sờ soạng lung tung mà bước liều tiến về phía trước.

Từ Thức mò mẫm đi được một quãng khá dài thì đột nhiên thấy xuất hiện ánh sáng le lói. Khi chàng nhìn ngược lên thì thấy những dãy núi cao chót vót, và đá thì mọc lởm chởm cả. Chàng lại tiếp tục leo lên trên đỉnh núi, và quang cảnh nơi này được rộng mở ngay trước mắt chàng. Từ Thức trông thấy được cả một tòa lâu đài vô cùng lộng lẫy. Chưa hết ngạc nhiên trước sự vĩ đại của quang cảnh nơi này thì chàng lại đột nhiên nhìn thấy bóng của hai cô gái nhỏ khoác áo màu xanh. Một cô gái tiền lên trước nói:

– Hóa ra là chú rể mới của nhà ta đã đến rồi kìa!

Từ Thức vô cùng bỡ ngỡ trước tình huống này, nhưng là chàng vẫn bạo dạn theo sau hai cô gái nhỏ. Trên đường đi hai bên đều mọc đầy những loại hoa thơm cùng cỏ lạ mà chàng chưa thấy bao giờ. Chỉ đi một lát thì đã đến ngay trước lâu đài nguy nga, lộng lẫy kia. Khi chàng vừa đặt chân lên đến thềm thì có một người đàn bà vô cùng quý phái tiến lại đón tiếp. Bà tươi cười mà nói với chàng:

– Nơi này là hang thứ sáu trong số ba mươi sáu hang động trên cõi tiên. Ta đã cai quản nơi này từ rất lâu rồi. Thật may mắn khi ngày hôm nay có thể được đón tiếp một người trẻ tuổi chí tình lại phong nhã. Thế nào, những cảnh trí ở nơi này có khiến du khách cảm thấy thích thú không vậy?

Chỉ thấy Từ Thức nhẹ gật đầu, và người đàn bà kia lại nói tiếp:

– Gượm đã. Còn phải cho ngươi gặp được người quen cũ chứ.

Nói đoạn thì bà liền ra hiệu cho một người hầu gái. Chỉ một lát sau thì một nàng tiên đi ra từ hành lang dài, dáng người nàng kiều diễm thướt tha, nàng khẽ mỉm cười mà chào chàng. Khi nhìn kĩ lại thì Từ Thức cũng nhận ra người mới tới chính là cô gái xinh đẹp bẻ cành hoa mẫu đơn ngày nào. Vì vậy chàng vô cùng mừng rỡ mà nói:

– Ô hay thật! Tôi đã đi khắp các nơi để tìm nàng mà chẳng thấy, thật không ngờ lại được gặp nhau ở nơi này!

Câu chuyện cũng kể từ giây phút ấy mà trở thành thân mật và đậm đà hơn rất nhiều. Bà chúa động hiền từ bảo:

– Tên của em nó là Giáng Hương. Vì ngày trước đi xem hội hoa mẫu đơn bất ngờ gặp rủi, may nhờ có chàng đây tận tình mà cứu giúp. Âu thì đó cũng gọi là duyên trời định. Chàng cũng có lòng bỏ công sức đi tìm kiếm, nay đã gặp được nhau nơi này, vậy thì hãy mở tiệc hoa cho thỏa lòng khao khát.

Việc này khiến cho Từ Thức cảm thấy không gì có thể đẹp lòng hơn nữa rồi. Ngay trong đêm ấy, tại bữa tiệc có đủ quần tiên về tụ hội tưng bừng, Từ Thức cùng nàng tiên Giáng Hương liền làm lễ giao bôi. Và khách tiên từ tất cả các động đều tới chung vui, cùng nhau cạn chén để chào đón chàng rể mới tới nhập tịch vào làng tiên, rồi lại cùng nhau chúc mừng cho một mối tình duyên vô cùng tốt đẹp.

Rồi ngày lại nối ngày mà qua đi, Từ Thức tới làm rể ở cõi tiên cũng ngót ba năm rồi. Cuộc sống mới ở nơi này hoàn toàn khác xa với cuộc sống nơi trần gian thuở trước của chàng. Ở nơi này mọi thứ từ cơm ăn đến áo mặc, cùng tất cả những vật dụng cần có chàng đều được chu cấp sẵn, không hề thiếu thốn dù chỉ một thứ. Chàng còn có được một người vợ có sắc đẹp tuyệt trần, lại vô cùng hiền dịu là nàng Giáng Hương, nàng lúc nào cũng có thể khiến cho chàng cảm thấy thỏa dạ cả. Không chỉ vậy, chàng còn được nay đây mai đó, ngao du từ động tiên này tới động tiên khác, hết làm thơ lại ngâm vịnh, cứ thao thao bất tuyệt không thôi.

Tuy nhiên thì thời gian cứ dần trôi qua, Từ Thức đột nhiên lại cảm thấy mình như thiếu điều gì đó. Một ngày nó chàng liền tìm Giáng Hương để tâm sự:

– Ta đây xa cha ngái mẹ cũng đã lâu rồi, giờ muốn được về thăm nhà một chuyến thì có được hay không?

Trông thấy vợ mình ngần ngừ, chàng bèn nói:

– Tôi chỉ muốn trở lại thăm nom cha mẹ, gặp bà con láng giềng lần chót, sau đó thì tôi sẽ trở lại đây và chung sống với nàng mãi mãi.

Giáng Hương thấy chồng như vậy cũng hết lời thủ thỉ mà khuyên dỗ chồng mình nên bỏ hết những suy nghĩ trở về đi. Bởi vì nơi cõi tục cùng nơi cõi tiên chính là hai con đường hoàn toàn cách biệt nhau. Tuy nhiên, Giáng Hương ra sức khuyên bảo nhiều thế nào thì nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của Từ Thức lại càng nặng hơn bấy nhiêu. Khi nhìn chồng đã không còn đòi trở về nhưng nét mặt lại ngày càng héo hon hơn thì nàng đành phải đi thưa chuyện với mẹ mình. Mẹ nàng cũng thương hại mà nói:

– Ta cũng không ngờ là nó còn lưu luyến nơi bụi hồng nhiều như vậy!

Nói đoạn bà sai người đem xe mây tới để đưa Từ Thức về lại nơi trần gian. Từ Thức vội vàng nói lời giã từ cùng vợ và mẹ vợ của mình, giã từ mấy bạn ở cõi tiên, sau đó bước lên xe mây. Cũng chỉ trong một cái chớp mắt, chàng đã lại thấy được quê hương xưa cũ của mình. Chàng thấy được những dãy núi, những con sông, nhưng lũy tre đều không khác khi xưa lúc chàng ra đi là mấy. Xe mây đưa chàng đặt xuống nơi bến sông, cái nơi mà ngày trước khi còn nhỏ chàng cũng hay ra đấy cùng chúng bạn tắm mát, bơi lội. Tuy nhiên thì khi nhìn kĩ tất cả mọi vật chung quanh thì chàng cảm thấy ngờ ngợ, có gì đó không đúng lắm. Chỉ mới có ba năm thôi mà sao nhà cửa cùng vườn tược ở nơi này đã đổi khác nhiều. Dân làng ở đây cũng chẳng thấy có người nào trông quen mặt cả.

Khi chàng kéo một người đi đường lại hỏi chuyện thì người ấy nói với chàng đúng tên làng là nơi chôn rau cắt rốn của chàng. Nhưng khi chàng hỏi tới cha mẹ cùng em gái của mình thì tất cả mọi người đều lắc đầu bảo không hề biết. Cuối cùng chàng đành đem tên họ của mình ra để hỏi thăm mấy cụ già ở trong làng, có một người ngẫm nghĩ rất lâu mới trả lời chàng:

– Hồi còn nhỏ xíu tôi cũng có nghe chuyện kể lại rằng trong số cụ tổ năm đời của nhà tôi có một cụ tên họ là Từ Thức, trước cụ ấy làm quan huyện nhưng lại treo trả ấn rồi trở về quê, một ngày nọ đi chơi xa, vào tận trong hang núi sau đó liền mất tích. Từ hồi ấy đến nay khéo có đến ba trăm năm rồi.

Nghe xong chuyện thì lúc này Từ Thức mới được thấm thía những lời nói lúc trước của vợ mình. Chàng đứng lại nơi gốc đa hồi trước mình trồng ở đầu ngõ giờ đã thành một cây cổ thụ to lớn, cành lá thì rườm rà, còn có những chùm rễ buông xuống chi chít cả, lòng chàng đầy bùi ngùi. Cả đám đông xúm lại vây chung quanh chàng, nhưng chàng chỉ biết thẫn thờ im lặng. Cuối cùng chàng cũng quyết định trở lại nơi xe mây, nhưng không ngờ rằng nó đã biến mất tự khi nào không hay. Chàng buồn rầu vô cùng, lại khăn gói mà lần mò tới nơi cửa Thần Phù, vốn định tìm lối hang cũ đưa mình tới động tiên năm nào nhưng nơi này bây giờ đã mịt mù toàn cây với đá, không thể nào tìm ra đường nữa. Chàng cứ đi mãi, đi mãi, sau này cũng chẳng biết là đi tới nơi nào. Kể từ ngày ấy người ta gọi hang núi nơi này là động Từ Thức để tưởng nhớ chàng.

Đánh giá

BÀI HAY NÊN ĐỌC