Cuộc đời và sự nghiệp Hoài Thanh

Hoài Thanh (1909 – 1982) có tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên (ngoài ra ông còn sử dụng các bút danh khác như Văn Thiên, Lê Nhà Quê), là một nhà phê bình văn học uyên bác và tinh tế, đã đóng góp công lớn về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ 20. Tác phẩm bất hủ Thi nhân Việt Nam do ông và em trai (Nguyễn Đức Phiên – bút danh Hoài Chân) viết đã đưa tác giả lên vị trí cao, xứng tầm một nhà phê bình lớn của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1909 trong một gia đình nhà nho nghèo có tham gia phong trào Đông Du chống Pháp của Phan Bội Châu. Quê ông ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Bắt đầu học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, hồi nhỏ ông là học sinh của trường Quốc học Vinh; rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học; tham gia phong trào yêu nước của học sinh của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu.

Trước 1945, ông tham gia viết văn, làm báo, dạy học và được coi là người đứng đầu trường phái phê bình văn học Nghệ thuật vị nghệ thuật. Năm 1927, Ông gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1930 đang học ở trường Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị trục xuất khỏi Bắc Kỳ và giải về quê. Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học, đồng thời viết văn, viết báo.

Tham gia Tổng khởi nghĩa của Việt Minh cướp chính quyền ở Huế tháng 8 năm 1945. Sau 1945 ông lần lượt giữ những chức vụ: Chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc, Huế (tháng 9 năm 1945); cán bộ giảng dạy tại Đại học Hà Nội (từ 1945 đến 1946); công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1947 đến 1948); ủy viên Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam(1950); Trưởng tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương (1950-1956); Vụ trưởng Vụ nghệ thuật và giảng dạy tại Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958).

Trong khoảng 10 năm 1958-1968 ông trở thành đại biểu Quốc hội khóa 2, làm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1 và 2. Từ 1959-1969 ông giữ chức Phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện. Từ 1969 đến 1975 ông giữ chức Chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hoài Thanh mất ngày 14 tháng 3 năm 1982 tại Hà Nội.

Tác phẩm đã xuất bản

Trước tháng 8 năm 1945

Viết các báo: Phổ thông, Le Peuple (do Nguyễn Văn Trấn sáng lập), La Gazette de Huế, Tràng An, Sông Hương, Tao Đàn.

Văn chương và hành động (1936)

Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (1941, cùng viết với Hoài Chân, nhưng Hoài Thanh là chủ yếu)

Sau tháng 8 năm 1945

Có một nền văn hóa Việt Nam (1946)

Quyền sống con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949)

Nhân văn Việt Nam (1949)

Xây dựng văn hóa nhân dân (1950)

Nói chuyện thơ kháng chiến (1951)

Nam Bộ mến yêu (1955)

Quê hương và thời niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960)

Phê bình và tiểu luận tập 1 (1960), tập 2 (1965), tập 3 (1971) [2]

Phan Bội Châu (1978)

Chuyện thơ (1978)

Tuyển tập Hoài Thanh (2 tập, 1982-1983)

Di bút và di cảo (1993)

Hoài Thanh toàn tập (4 tập, 1998)

Đánh giá của tác giả

Một đời làm văn tôi chỉ tìm cái hay cái đẹp để bình. Đó là điều ham muốn của tôi. Vậy mà tôi đã vấp phải khối chuyện phiền: kẻ yêu, người ghét. Thậm chí tôi còn bị vu cáo, bị nói oan. Tôi biết vậy nhưng không thể sống khác, viết khác cái tạng của mình. Điều mà tôi có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trước lúc đi xa là tôi đã sống và viết hoàn toàn trung thực.


Phong cách phê bình văn học của Hoài Thanh

PGS.TS. ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG

(Bộ môn Lí luận văn học – Khoa Văn học)

“Mỗi người trong chúng ta, dù là con người tầm thường nhất, cũng tượng trưng cho một toàn bộ khó quan niệm những cố gắng của tự nhiên và của con người được theo đuổi không ngừng qua nhiều triệu thế kỉ. Chỉ riêng điều này có lẽ đủ để làm cho chúng ta xem xét tia lửa mà chúng ta mang trong người như là vô cùng quý giá và cuộc sống như là một cái gì quan trọng nhất”.

Những dòng nhật ký ấy Hoài Thanh viết ở Huế tháng 11/1934, khi Hoài Thanh còn rất trẻ và đi “tìm cái đẹp trong nghệ thuật đã trở thành lí tưởng của cuộc đời ông. Trên hành trình một đời văn, một đời người, với “tia lửa” của riêng mình, Hoài Thanh bao giờ cũng thể hiện khát vọng yêu cuộc sống và con người với tất cả tấm lòng chân thực nhất, những rung động tinh tế, sâu sắc, độc đáo nhất. Đấy là cái “tạng” của Hoài Thanh, là phong cách Hoài Thanh.

Văn học cũng như phê bình văn học rất cần sự đa dạng, độc đáo của những cá tính sáng tạo; nói cách khác, sự tồn tại và phát triển của văn học, của phê bình văn học không thể tách rời phong cách. Xét cho cùng, bất cứ nghệ sĩ sáng tạo văn chương nào cũng có đặc điểm riêng của mình, nhưng phong cách thì không thể ai cũng có. Phong cách – đó là kết quả sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nghệ sĩ và “tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” (V.Hugo). Chính Hoài Thanh có lần viết về phong cách trong phê bình văn học : “Chớ vội đi tìm cái gọi là phong cách. Hãy cứ nghiên cứu thật sâu, thật kỹ, gắng phát hiện những vấn đề ẩn khuất bằng cả tâm hồn và trí tuệ của mình, kỳ thật chín. Sau đó hãy cầm bút. Và hãy cố biểu đạt sao cho chính xác nhấtm gọn nhất ý tưởng của mình. Lúc này, phong cách tự nó sẽ đến. Không phải mất công tìm kiếm gì cả. Bởi vì phong cách chính là tổng thể quá trình sáng tác đó”. Thật đúng vậy, phong cách Hoài Thanh toát lên từ toàn bộ cuộc đời và văn nghiệp của ông.

Từ đầu những năm ba mươi của thế kỉ XX, tên tuổi Hoài Thanh bắt đầu được chú ý với cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật hay “nghệ thuật vị nhân sinh”. Khởi nguồn sâu xa của cuộc bút chiến này là việc phê bình tập truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Đầu tháng 8/1935, trên Tiểu thuyết thứ bẩy số 62, Hải Triều có bài khen ý nghĩa xã hội của tập truyện trên. Ngay sau đó, trên báo Tràng An số ra ngày 15/8/1935, Hoài Thanh có bài Văn chương là văn chương phủ nhận quan điểm của Hải Triều và đề cao giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Cuộc tranh luận kéo dài đến năm 1939 với hai phía của chiến tuyến : một bên cùng với Hải Triều là Hải Thanh, Hải Khách (Trần Huy Liệu), Hải Âu (Trịnh Xuân An), Hồ Xanh, Lâm Mộng Quang, Phan Văn Hùm…; một bên cùng với Hoài Thanh là Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Thiều Quang, Lê Quang Lộc, Lan Khai… Phía Hoài Thanh bị “kết án” là thoát li, hình thức chủ nghĩa, vị nghệ thuật. Sự thực, Hoài Thanh chỉ muốn nhấn mạnh đặc trưng thẩm mỹ của văn chương, chứ ông không có ý phủ nhận ý nghĩa xã hội của văn chương, trách nhiệm xã hội của người cầm bút ; trên Tiểu thuyết thứ bẩy 23/5/1935, Hoài Thanh khẳng định : “Văn chương có ảnh hưởng lớn vì văn chương hun đúc tinh thần người đời. Văn chương không có quyền luôn luôn ở trên mấy tầng mây cao thẳm, lãnh đạm ngắm những cảnh phong ba dữ dội ở đời” (Cần có một thứ văn chương mạnh mẽ hơn). Quan điểm ấy được Hoài Thanh phát triển sâu sắc hơn trong cuốn Văn chương và hành động (viết năm 1936 với sự góp mặt của Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư). Cuốn sách vừa ra đời đã bị thực dân thu hồi và cấm lưu hành (mãi đến năm 1998 mới tìm lại được và ra mắt công chúng). ở cuốn sách ấy, một người “vị nghệ thuật không thể có những dòng đầy nhiệt huyết như thế này : “Là một người Việt Nam ở thời bây giờ trên vai ta mang nặng những trách nhiệm không thể từ chối được… Trước tình hình như vậy, vòng tay đứng nhìn là một tội ác… Chúng tôi nhận rằng nhà văn cũng phải hành động như mọi người : hành động bằng việc làm và hành động bằng ngòi bút”[1].

Năm 1942, Hoài Thanh và Hoài Chân viết Thi nhân Việt Nam, cuốn sách để đời trong văn nghiệp Hoài Thanh, cuốn sách góp phần quyết định tạo nên tên tuổi Hoài Thanh. Trong hàng trăm nhà thơ, hàng vạn bài thơ, nhà phê bình đã chọn ra 46 nhà thơ, 169 bài thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới. Trần Mạnh Hảo viết một cách hình ảnh : “Thơ Mới khi ra đời như kỳ hoa dị thảo mọc lên một cách hoang hóa từ khắp rừng núi, đồng bằng, đô thị Việt Nam. Hoài Thanh và Hoài Chân đã mất nhiều công sức tìm ra những tinh hoa, thâu tóm những loài hoa cỏ kỳ lạ điển hình nhất của rừng hoang Thơ Mới, trồng vào khu rừng riêng có chọn lọc, rồi rào vườn bách thảo thi ca lại đặng coi sóc, gìn giữ lưu lại cho hậu thế được thỏa sức ngắm nhìn”[2]. Những bài thẩm bình của Hoài Thanh với từng nhà thơ thực sự là những bài thơ và bài tổng kết phong trào Thơ Mới mang tên Một thời đại trong thi ca thực sự là một bản trường ca, “khúc tuyệt xướng” về Thơ Mới. “Đọc Thi nhân Việt Nam, trước hết ta gặp một nhà thơ ở giữa các nhà thơ” (Hoàng Trinh). “Nếu các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới là Bá Nha thì họ đã có một Tử Kỳ chính là Hoài Thanh” (Ngô Văn Phú). Hoài Thanh đã xây nên “lâu đài kiến trúc hài hòa, đầy chất thơ” (Đỗ Đức Hiểu). Thi nhân Việt Nam là “một công trình của thế kỉ” (Nguyễn Văn Hạnh). “Rồi người đời sẽ quên dần và quên hết các chức tước, các trọng trách mà ông giữ, để chỉ còn và còn mãi mãi tác giả Thi nhân Việt Nam (Phong Lê).

Cuốn sách Nói chuyện thơ kháng chiến (1951) tập hợp những bài nói chuyện về thơ của Hoài Thanh trước đông đảo công chúng trên những nẻo đường đầy gian lao mà anh dũng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trước sau Hoài Thanh vẫn là một nhà nghệ sĩ dạt dào tình cảm dân tộc, đồng bào và thiết tha yêu thương quê hương đất nước. Với sự đồng cảm sâu xa, Hoài Thanh luôn khẳng định “nội dung của thơ ca kháng chiến là tình yêu nước, và không có gì ngoài tình yêu nước, không có gì ngoài những phương diện của tình yêu nước”[3], đồng thời Hoài Thanh cũng nhiệt tình ủng hộ khuynh hướng đại chúng trong hình thức biểu hiện. Tiếp tục duy trì những thao tác đã dùng khi viết Một thời đại trong thi ca, nhà phê bình đã quan sát thơ kháng chiến từ nhiều bình diện : cơ sở xã hội, đội ngũ sáng tác, nội dung trữ tình, thể thơ… Trên cái nền hào hùng của cuộc kháng chiến và không khí sôi nổi của phong trào sáng tác thơ ca quần chúng, Hoài Thanh đã phác họa chân dung những con người mới của một thời đại mới, nhân vật công nông binh, đồng thời ông chọn lọc và giới thiệu những bài thơ kháng chiến tiêu biểu : Viếng bạn (Hoàng Lộc), Nhớ (Hồng Nguyên), Bài ca vỡ đất (Hoàng Trung Thông), Người dân quân xã (Vĩnh Mai), Lượm, Lên Tây Bắc (Tố Hữu) v.v… Trong bản giao hưởng thơ ca kháng chiến, Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh đã là một nốt nhạc trong trẻo chan chứa niềm tự hào và tin yêu, tiếp thêm sức mạnh cho những người kháng chiến.

Hoài Thanh đặc biệt chú ý đến văn học trung đại. Năm 1943, một năm sau khi xuất bản Thi nhân Việt Nam, ông viết Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du – Từ Hải đăng trên báo Thanh Nghị ; cũng năm đó, trên tờ Vì Chúa nguyệt san số 238, ông viết Một vài ý kiến về quyển “Nguyễn Du và Truyện Kiều” của ông Nguyễn Bách Khoa bác bỏ những quan điểm lệch lạc khi nghiên cứu Truyện Kiều. Sau này, do yêu cầu nghiên cứu và giảng dạy, Hoài Thanh còn viết khá nhiều bài về tác phẩm của Nguyễn Du, nhưng có lẽ bài viết hay nhất của ông về Truyện Kiều là Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949). Viết về Truyện Kiều, “văn phong và ngôn từ của Hoài Thanh, chủ yếu do khả năng cảm thụ tinh tế, sâu sắc của tác giả, có phần gần gũi và kế thừa ngôn từ văn phong của Mộng Liên Đường chủ nhân, của Thập Thanh Thị, của Chu Mạnh Trinh – những nhà thẩm bình Truyện Kiều kiệt xuất – đồng thời vẫn có một nét duyên dáng, độc đáo riêng biệt mà theo ý chúng tôi, trước hết là giá trị gợi cảm, mở rộng trường liên tưởng đối với người đọc (Đặng Thanh Lê). Hoài Thanh còn viết về Bình ngô đại cáo và thơ Nôm của Nguyễn Trãi, về Phan Trần, Hoa Tiên, Chinh phụ ngâm, về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu v.v… Hoài Thanh đã làm được điều mà nhiều nhà nghiên cứu khác không làm nổi, là làm sống lại những tác phẩm thời quá khứ, khiến cho “những bông hoa, kể cả những loại không phải là hoa khôi, đã trải qua hàng trăm năm sương giá trở thành thắm tươi hơn, có khi còn thắm tươi hơn ngày mới nở” (Trương Chính)[4].

Nhưng văn học hiện đại mới là mối quan tâm hàng đầu và thường xuyên của Hoài Thanh. Các tác gia lớn trong văn chương dân tộc được Hoài Thanh đặc biệt ưu ái. ở văn học cận đại Việt Nam, những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Hoài Thanh chú ý tới Phan Bội Châu; còn bây giờ, ở văn học hiện đại Việt Nam, Hoài Thanh chú ý tới Hồ Chí Minh và Tố Hữu với tư cách là hai nhà thơ cách mạng hàng đầu mà tác phẩm của họ có sức động viên rất lớn với quần chúng nhân dân. Hoài Thanh luôn có ý thức “học tập Bác qua thơ Bác” ; bằng cảm quan nhạy bén, linh khiếu thẩm bình văn chương tinh tế, sắc sảo, từ vẻ đẹp của thơ Bác, Hoài Thanh đi sâu khám phá vẻ đẹp nhân cách Hồ Chí Minh. Hoài Thanh luôn theo sát các chặng đường thơ Tố Hữu, nhất là từ tập Việt Bắc trở đi, nhà phê bình thường xuyên có những phát hiện mới về thơ Tố Hữu ở cấp độ chi tiết nghệ thuật ; chẳng hạn, Hoài Thanh nhận ra “giọng thơ tâm tình” trong Nước non ngàn dặm : “Bài thơ dài trên ba trăm câu mà gần như không một lần lỡ nhịp ngang cung. Bài thơ ngọt lịm, đúng là một tiếng ru. Một tiếng ru day dứt không thôi. Bởi ru đây không phải là ru để ngủ, để quên, mà để đừng quên”[5]. Hoài Thanh viết về Hòn Đất của Anh Đức, về thơ của Giang Nam, Thanh Hải, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Lưu Quang Vũ, Cảnh Trà v.v… Cũng như với các nhà thơ mới trước kia, Hoài Thanh rất trân trọng các nhà thơ trẻ của thời đại cách mạng, “Con mắt xanh” của nhà phê bình tài hoa đã làm chất kim cương trong thơ họ lấp lánh tỏa sáng, nói như Chế Lan Viên : “Cái hay của Hoài Thanh là sau việc đánh giá cao Thơ Mới như vậy, anh lại góp phần vào việc làm ra một nền thơ cách mạng cao hơn, mới hơn, mới hơn về nội dung cách mạng”[6]. Không những thế, Hoài Thanh đã bắt đầu tập hợp tư liệu để viết một bài tổng kết về thơ ca hiện đại kiểu Một thời đại trong thi ca ; tiếc là ông đã ra đi quá sớm, không kịp thực hiện dự định cao đẹp ấy của đời ông.

Một đời cầm bút và sáng tạo, Hoài Thanh đã để lại trong văn chương dấu ấn thật khó phai mờ. Dấu ấn độc đáo đó thể hiện trong quan niệm nghệ thuật, phương pháp phê bình, tính cách phê bình của Hoài Thanh.

Hoài Thanh luôn trân trọng, mến yêu cuộc sống và càng yêu cuộc sống, yêu con người, Hoài Thanh càng say mê văn chương vì văn chương làm cho người ta thêm quý yêu cuộc sống và con người. “Ông Hoài Thanh đã quan niệm Thơ không chỉ vì Thơ mà trước hết còn vì cuộc sống, vì con người. ở đây, tình yêu thơ cũng là tình yêu con người với mọi góc cạnh lung linh của tâm hồn, là tình yêu cuộc sống với đầy đủ những vui buồn…” (Chu Hảo). Say mê văn chương, Hoài Thanh đề cao, khẳng định giá trị đích thực của văn chương là ở phẩm chất nghệ thuật của nó, ở bản chất của nó, đó là cái đẹp, nhà văn Nga K.Pautôpxki có câu nói nổi tiếng : “Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường vào xứ sở của cái đẹp” – phải chăng “cái đẹp” ấy là vẻ đẹp của cuộc sống, vẻ đẹp của tâm hồn, là cái đẹp ở nội dung miêu tả, cái đẹp ở phương thức biểu hiện của tác phẩm ? Đức Năng, người con thứ hai của Hoài Thanh, tưởng nhớ người cha kính yêu của mình “cả một đời hướng tâm vì cái đẹp : cái đẹp của cuộc sống và cái đẹp của nghệ thuật”. Văn Giá nhấn mạnh : “Hoài Thanh trước sau vẫn nhất quán trong một bản chất thi sĩ đích thựcmột: say mê đi tìm cái đẹp và “sùng bái” cái đẹp (chữ dùng của cụ Đặng Thai Mai)…” Với Hoài Thanh, chính cái đẹp mới làm nên phẩm chất văn chương. “Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ trong những bài thơ hay”[7]. “Thơ chưa hay thì có cũng bằng không có”[8]. Nhưng cái đẹp, cái hay của văn chương phải mang bản sắc riêng biệt, độc đáo. “Một truyện ngắn, một bài văn phê bình, hay một bài văn nào khác, đều cần phải có cái đặc sắc của nó” (Phê bình văn – Tiểu thuyết thứ bẩy, 14/9/1935). Văn chương là sản phẩm tinh thần của con người, một sản phẩm đặc thù mang dấu ấn độc đáo của cá tính sáng tạo. “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng” (Ngoại cảnh trong văn chương – Tràng An, 10/12/1935). Hoài Thanh còn chỉ rõ cội nguồn mọi sáng tạo độc đáo là ở tài năng, nhân cách của người nghệ sĩ. Cái tài phải đi với cái tâm, một cái tâm trong sáng, thành thật. Trong bài Nhỏ to viết cuối sách Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh tâm sự với bạn cùng nghề văn : “Danh vọng quý thật, nhưng còn có điều quý hơn danh vọng, quý hơn hết thảy : lòng ngay thẳng mà ít nhất cũng phải giữ trọn trọng văn chương”. Sống thành thực, viết thành thực là một tư tưởng nhất quán trong toàn bộ cuộc đời Hoài Thanh, ông chỉ viết những điều mình xúc động, cảm nghĩ thực sự, không vay mượn của ai, không nói những điều trái với rung cảm của lòng mình. Thật chẳng phải ngẫu nhiên Ngô Tất Tố viết ở đầu cuốn Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1938): “Tặng Hoài Thanh Nguyễn Đức Nguyên, một người trong sạch, thành thật và có nghị lực trong lớp thanh niên ngày nay”.

Quan niệm nghệ thuật của Hoài Thanh là cơ sở cho phương pháp phê bình văn học của ông. Yêu cái đẹp, Hoài Thanh chỉ chọn cái đẹp, cái hay trong văn chương để bình, chứ không phê, và bình bằng cả tâm hồn mình, bằng cả con người văn hóa của mình. “Nếu gọi bằng nghiệp thì bình thơ vẫn là cái nghiệp rất vui. Còn gì vui bằng cùng với ý đẹp, lời đẹp và nhạc điệu, âm thanh đi vào những tâm hồn trong sáng, đi vào những nơi trong sáng nhất của tâm hồn. Khó có những chuyến đi nào say người hơn”[9]. Với Hoài Thanh, phê bình văn học đã là một niềm đam mê lớn, phê bình cũng là văn chương, ông đã nâng công việc bình thơ, bình văn lên thành một nghệ thuật, nó đòi hỏi nhà phê bình phải viết cho hay, cho hấp dẫn, phải có những sáng tạo mới mẻ. “Phê bình một quyển sách phải nói cho đúng đã đành, mà lại cần phải nói cho hay nữa, làm thế nào cho câu nói của mình có đặc sắc. Đối với một quyển sách, mình có ý kiến gì là lạ, mới nên hạ bút phê bình, không thì thôi. Phê bình cũng cần phải có sáng tạo là thế”. Hoài Thanh phát hiện cái đẹp, cái hay, cái mới, cái lạ trong văn chương bằng ấn tượng trực cảm, sự đồng điệu của tâm hồn, “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. “Mỗi người có một cái “tạng” riêng, “tạng” của Hoài Thanh trong phê bình là trực giác, ấn tượng. Ông rất tự tin vào cảm xúc tự nhiên của mình, và thường là ông đúng” (Phạm Xuân Nguyên). “Lối phê bình của Hoài Thanh là đi trực tiếp đến cái thần của sự vật, gợi lên cái tứ của bài thơ ; nó gần với sáng tác mà xa với khoa học ở cách làm, nhưng vẫn đạt đến ý nghĩa khoa học vì nó cũng phát hiện ra chân lí” (Nguyễn Thị Thanh Xuân). Nhưng phương pháp phê bình văn học của Hoài Thanh không đơn thuần là phê bình ấn tượng mà còn là so sánh, xã hội học, hiện tượng học, tiếp cận văn hóa – lịch sử… Khi bình thơ văn cổ điển, “với tinh thần biểu dương cổ vũ, gạn đục khơi trong, kế thừa di sản, Hoài Thanh đã vận dụng sở trường bình thơ kiểu thi thoại của ông để chỉ ra những bài thơ hay, câu thơ hay, hình ảnh hay một cách xác đáng” (Trần Đình Sử). Để nhận diện chân dung tâm hồn các nhà thơ mới, Hoài Thanh dùng phương thức so sánh ở cấp độ tác giả : “Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê… Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê. Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính… Nhưng người hiểu cảnh quê hơn Anh Thơ”[10]. Hoài Thanh luôn thực hiện phân tích tác phẩm gắn với đặc trưng thể loại, phong cách, thi pháp : với những tác phẩm truyện như Truyện Kiều, Hoa Tiên, Phan Trần… Hoài Thanh chú ý khám phá thế giới nhân vật (Thúy Kiều, Từ Hải, Dao Tiên, Lương Sinh, Kiều Liên, Phan Sinh…) ; với các tác phẩm thơ trữ tình như Nhật ký trong tù, Hoài Thanh ít nói tới sự kiện mà quan tâm nhiều đến thế giới tâm tư tình cảm của nhà thơ : “Nhưng giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên, ánh sáng của một tấm lòng thương người và yêu mến đời vô hạn”[11]. Có thể nói, phương pháp phê bình văn học của Hoài Thanh rất linh hoạt, uyển chuyển, “ông vừa tiếp nối cung cách bình thơ của các thi nhân – hiền giả trong truyền thống văn hiến của cha ông, vừa kết hợp và ẩn chứa trong lời bình cái quan niệm bản chất thơ ca của nhiều xu hướng văn chương tiến bộ, trong lúc tâm hồn ông đã lộng gió phương Tây…” (Trường Lưu).

Con người Hoài Thanh , tính cách Hoài Thanh hiện rõ trên những trang văn. Nếu nghệ sĩ là người tôn thờ cái đẹp, sáng tạo cái đẹp, giàu xúc cảm và có trí tưởng tượng bay bổng thì Hoài Thanh là một nghệ sĩ đích thực trong phê bình, ông là nhà phê bình – nghệ sĩ. Trong văn chương, tác phẩm hay chính là cái đẹp và Hoài Thanh xác định cho mình nhiệm vụ là “bình thơ hay”, “bình cái hay của thơ”. Tính cách nghệ sĩ của Hoài Thanh còn thể hiện rõ ở năng lực đồng cảm, cảm thông với người sáng tác. “Nét đồng điệu của tâm hồn là yếu tố tiên quyết giúp tác giả lắng lòng nghe thấy cái huyền diệu, cái tinh tế trong những hồn thơ mong manh mà người khác không cảm thấy được… Ông đã tạo ra một điệu văn, đúng hơn, một điệu thơ – phê bình, để dẫn ta vào một thế giới trong đó hồn ông và hồn thi nhân nhập hòa làm một và được biểu hiện bằng những câu thơ linh diệu” (Thiếu Mai). “Kể từ Thi nhân Việt Nam cho đến nay, Hoài Thanh vẫn là nhà phê bình có cách cảm thụ thơ tinh vi và sâu sắc. Ông nhạy cảm và lại thận trọng : ông thường tìm được những điều chủ yếu nhất của bài thơ, thấy được cái hay của câu chữ vần điệu và cũng thấy được cả cái ấp úng trong lòng tác giả chưa giãi bày hết được lên thơ” (Vũ Quần Phương). ở người nghệ sĩ Hoài Thanh, sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách phê bình lại được chắp cánh bởi tư duy hình tượng, bởi những liên tưởng sinh động. Có cảm giác trong tay ông, cây đũa thần – phê bình chạm tới đâu là ở đấy tất cả sống dậy, có hồn, khơi gợi tưởng tượng và cảm xúc. Một khái niệm trừu tượng như thơ ca, dưới ngòi bút Hoài Thanh “thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao”. Đánh giá vị trí của Tản Đà trong tiến trình thơ ca Việt Nam, Hoài Thanh khẳng định đó là “người đã dạo những bản đàn mở đầu cho cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa”. Hoài Thanh hình dung xã hội Truyện Kiều, “cái xã hội ghê tởm đó sống nhơ nhuốc dưới ngòi bút của Nguyễn Du với cái màu da nhờn nhợt của Tú Bà, cái bộ mặt mày râu nhẵn nhụi của Mã Giám Sinh, cái vẻ chải chuốt, dịu dàng của Sở Khanh, cái miệng thì xoen xoét của Bạc Bà, Bạc Hạnh”[12].

Nếu nhà lí luận thiên về phê bình lí trí thì nhà nghệ sĩ thiên về phê bình tình cảm. Hoài Thanh là nhà phê bình tình cảm. “Con người Hoài Thanh giản dị và giàu tình như thế nào thì phong cách viết của anh như vậy “[13] (Vũ Đức Phúc). Cả cuộc đời đã theo tiếng gọi của nghệ thuật, nhưng với Hoài Thanh, mọi cảm hứng sáng tạo nghệ thuật đều chung một cội nguồn sâu xa là tình cảm. Phê bình không phải là chuyện tỉa tót văn chương ; sức nặng của lời phê bình trước hết là ở giá trị chân lí – những chân lí của cuộc đời chứa đựng trong tác phẩm phải thông qua cái tình của nhà phê bình mới đến được trái tim người đọc. Chính Hoài Thanh đã viết : “Muốn phân tích văn thơ cho chính xác không thể nào không cần đến ít nhiều rung cảm nghệ thuật. Nhưng rung cảm nghệ thuật cũng là một thứ tình cảm, và rung cảm đúng hay sai thường cũng là do những tình cảm chủ đạo trong đời sống mỗi chúng ta quyết định”[14]. Tình cảm luôn là nguồn lực lớn lao chi phối ngòi bút Hoài Thanh. Nhà phê bình đã hướng tới nhiều thể loại văn học (ca dao, truyện, tiểu thuyết, phóng sự, bút ký v.v…) nhưng ông dành nhiều công sức nhất (và cũng thành công nhất) ở công việc bình thơ, vì thơ là tiếng nói của tình cảm, thơ diễn tả một cách chân thật và rung động những tâm tư, tình cảm sâu sắc của con người. Là một nhà thơ giữa các nhà thơ mới, Hoài Thanh không cần dùng một từ ngữ nào đặc tả nỗi buồn hoài cổ trong thơ Huy Cận, vậy mà người đọc vẫn cảm nghe được nỗi cô đơn, trống vắng đến lạnh người trong cái xa xôi vô tận của cõi đời : “Nhưng con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch, tứ bề càng vắng lặng mênh mông. Có lẽ thi nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến. Một Pascal hay một Hugo trong lúc đó sẽ rùng mình, sẽ hốt hoảng ; với cái điềm đạm của người phương Đông thời trước, Huy Cận chỉ lặng lẽ buồn”[15]. Ngòi bút trữ tình của nhà phê bình phát hiện vẻ đẹp tâm hồn trong thơ Tố Hữu : “Từ ấy để lại những hình ảnh khá đậm về nhà thơ. Ta thấy anh nện gót trên đường phố Huế để tỏ thái độ khinh ghét đối với cả một lối sống đớn hèn. Ta thấy anh một mình trong xà lim Quy Nhơn, tim nhức nhối vì một tiếng rao đêm…”[16]. Còn đây, trong một tác phẩm tự sự, tiểu thuyết Hòn Đất, nhà phê bình xúc động bởi một chi tiết rất nhỏ, tưởng như chẳng mấy ai chú ý tới : “Không những ai nấy đều sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn, ở đấy còn có một cái có khi còn khó hơn đức hi sinh nữa : đó là đức quên mình. Tiêu biểu nhất là chị Sứ. Chị luôn chăm lo cho người khác. ở trong hang, chị là người uống nước ít nhất và “việc này cũng chỉ có chị biết mà thôi”…[17] Có thể nói như Lưu Liên : “Đấy là kiểu thưởng thức văn chương rất mộc, rất gốc, rất gần… chỉ có con tim, tấm lòng, và một niềm say đắm, say trong thơ và đắm nghĩa tình đời”[18].

Văn là người. Qua văn phong phê bình thấy hiện lên một Hoài Thanh tinh tế, trang nhã, tài hoa. “Bản sắc ấy đưa tác giả vào một diện không nhiều những nhà phê bình mà nếu bài viết có che tên đi, người đọc vẫn nhận ra văn ấy, đúng là của con người ấy”[19] (Hồng Diệu). Trong cuộc đời, Hoài Thanh là một con người từ tốn, khiêm nhường mà sắc sảo ; trong văn chương, Hoài Thanh đã xây dựng cho mình một bút pháp chân thực mà duyên dáng, hấp dẫn, sâu sắc mà uyển chuyển, nhẹ nhàng. Đã có lần Hoài Thanh ngợi ca Thế Lữ có tài “điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không cưỡng được”[20]. Đến lượt mình, Hoài Thanh cũng chứng tỏ một năng lực ngôn ngữ tài hoa không kém. Viết về Chinh phụ ngâm, ông đã sử dụng một đội quân từ ngữ phong phú để diễn tả mọi cung bậc tâm trạng của người chinh phụ : câu thơ mênh mang, câu thơ xao xác, câu thơ đau xé ruột, câu băn khoăn, câu nhẹ lướt như bàn tay âu yếm, câu quấn quýt, rạo rực yêu đương v.v…[21]. Hoài Thanh dùng nhiều thủ pháp riêng như so sánh, liên tưởng, gợi không khí, tạo đường viền… làm cho cái hay của tác phẩm nổi bật lên, đem đến cho độc giả những cảm xúc thẩm mỹ mới mẻ. So sánh, đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để làm nổi rõ chất sáng tạo đầy trí tuệ và thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng Từ Hải : “Ngờ đâu non ba trăm năm sau, đầu thế kỉ XIX, ở một xứ mà sinh thời chắc Từ Hải không biết đến, trên bờ sông Lam, Từ Hải còn được tái sinh một lần nữa. Đã suýt mai một cùng quyển truyện của Thanh Tâm tài nhân, Từ Hải bỗng được một thiên tài Việt Nam cho sống lại và vinh quang của Từ Hải lần này mới thật rực rỡ. Cái mộng của Thanh Tâm tài nhân, cái mộng biến Từ Hải thành một vị anh hùng cái thế, phải có thiên tài Nguyễn Du mới thực hiện được… Ca tụng uy võ của Từ Hải, Thanh Tâm tài nhân viết : “Không quá ba ngày, Từ Hải phá một thôi được năm huyện”. “Phá được năm huyện thì còn ra gì ! Nguyễn Du chỉ bỏ vài chữ và đổi cách đặt câu :

Đòi cơn gió táp mưa sa

Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam

Vẫn chừng ấy mà lời văn mạnh mẽ và khoái trá biết chừng nào[22].

Dường như trong công việc phê bình của mình, Hoài Thanh luôn chú ý đến sự giản dị và cô đọng trong bút pháp mà vẫn không làm mất đi sự mềm mại, quyến rũ của nghệ thuật văn chương. Mở bất cứ trang nào của Thi nhân Việt Nam, người ta cũng thấy những câu văn thật trang nhã, đầy chất thơ : “Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khinh bỉ như cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di dịch. Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hòe phủ trên thi tứ. Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều : một điều cần hơn trăm nghìn điều khác : một lòng tin đầy đủ”[23]. Huy Cận viết : “Về cảm thụ thơ, phân tích tinh tế các hồn thơ như trong Thi nhân Việt Nam thì ít ai bằng, có lẽ chưa ai bằng Hoài Thanh”[24]. Lê Bá Hán nhận xét : “Anh có thể nắm bắt bén nhạy cái “thần” của một tác giả, khái quát được khá tập trung phần tinh túy nhất của một hồn thơ. Lắm khi chỉ với vài từ hoặc một câu ngắn gọn, anh diễn đạt được cái cốt cách của một tác giả. Anh nhắc đến cái ung dung nhưng khẩn trương, thôi thúc và đanh thép của Sóng Hồng, tiếng nói chân chất của Thanh Hải, tiếng nói đằm thắm của Giang Nam, tiếng nói mặn mà của Viễn Phương, cái vị ngây ngất say sưa lí tưởng của thơ Lê Anh Xuân…”[25].

Ngày 13/7/1980, trong nhật ký, Hoài Thanh nói với hương hồn người vợ thân yêu của mình : “Nguyên tin rằng, những phần đẹp nhất trong hồn ta, những việc làm đẹp nhất của chúng ta sẽ cùng với sông núi này, đất trời này còn mãi !”[26]. Để có một phong cách, một bản lĩnh riêng, Hoài Thanh đã cố gắng, nỗ lực không ngừng trong văn chương và trong cả cuộc đời. Niềm tin của ông đang trở thành hiện thực. Những phần đẹp nhất của tâm hồn ông, những việc làm đẹp nhất của đời ông đang được trân trọng, nâng niu như trong hằng mơ ước. Mãi mãi, mọi người còn nhớ tới Hoài Thanh, “một con người tài hoa, rất tài hoa, và hết mực trung thực, trung thực cho đến tận những ngày cuối cùng đối với thơ và đối với đời”[27] (Vũ Tú Nam), “nhà phê bình văn học lớn nhất, tài hoa nhất của thế kỉ XX này trên đất nước Việt Nam”[28] (Nguyễn Đình Chú).

Đánh giá

BÀI HAY NÊN ĐỌC