Con trai người gác cổng

Truyện cổ Andersen

CON TRAI NGƯỜI GÁC CỔNG

Quan Đại tướng ở trên gác, người gác cổng ở dưới nhà hầm. Hai gia đình sống rất cách xa nhau, trước hết là tầng dưới nhà ngăn biệt họ, sau nữa là do sự khác nhau về đẳng cấp. Nhưng họ cùng sống dưới một mái nhà, cả hai tầng nhà cùng trông ra một phố và nhìn ra một sân.

Trong sân có một bãi cỏ, ở giữa bãi cỏ có một cây dạ hợp ra hoa vì lúc ấy đang mùa dạ hợp nở. Thỉnh thoảng chị vú em ăn vận đỏm dáng quá mức đến mức đến bên gốc cây, tay ẵm đứa con gái quan Đại tướng, cô bé Emily, ăn vận còn đỏm dáng gấp mấy lần chị vú nữa kia. Trước mặt cô, cậu con trai người gác cổng, chân đất đang nhảy múa. Chú có đôi mắt to, đen và bộ tóc hung hung đỏ. Cô bé mỉm cười và giơ đôi bàn tay xinh xinh về phía chú. Khi quan Đại tướng đứng trên cửa sổ nhìn thấy cảnh tượng ấy ngài gật đầu mà rằng: “Thật là tuyệt!”.

Đại tướng phu nhân, trẻ đến nỗi người ta có thể tưởng nhầm là con gái của đức ông chồng, không bao giờ thèm nhìn qua cửa sổ xuống sân.

Bà đã ra lệnh rằng thằng cu, con cái nhà ở dưới hầm, rất có thể được chơi đùa trước mặt cô chiêu để mua vui cho cô, nhưng không được chạm tới người cô bé. Chị vú em rất trung thành với mệnh lệnh bà chủ. Nắng soi vào nhà những người ở dưới hầm, cũng soi vào nhà những kẻ ở trên gác. Hoa dạ hợp theo từng mùa nở rồi lại rụng. Năm sau cũng lại thế. Chú bé con người gác cổng bụ bẫm, cái đầu đáng yêu với đôi má hồng giống như một bông hoa huệ to đang nở. Cô con gái quan Đại tướng thì thanh tao và xinh xắn, da trắng hồng trông như hoa dạ hợp. Cô rất ít khi đến dưới gốc cây. Cô thường đi xe ngựa ra ngoài hóng mát với mẹ. Khi đi và khi về bao giờ cô cũng gật đầu với con trai người gác cổng tên là George: ừ, mà cô lại còn lấy tay ra hiệu gửi cho chú những cái hôn, cho đến khi mẹ cô bảo rằng bây giờ lớn rồi, làm như thế không hợp nữa.

Một buổi sáng, George phải mang theo cho quan Đại tướng báo chí, thư từ gửi đến nhà từ lúc sớm. Khi leo lên cầu thang, đi ngang trước cái ngăn chứa cát[26] chú nghe thấy bên trong phát ra tiếng chiêm chiếp. Chú tưởng đây là một tiếng kêu của một con gà bị lạc vào đây. Nhưng hóa ra con gái quan Đại tướng, cô Emily mặc toàn bằng sa mỏng và đăng ten.

Cô thì thầm:

– Đừng nói gì với ba má nhé, chẳng có ba má lại giận đấy!

George hỏi:

– Nhưng cái gì thế mới được chứ?

Cô trả lời:

– Cháy cả rồi, bốc lửa tất cả rồi!

George nhảy phắt lên thang và vào nhà quan Đại tướng. Chú mở cửa buồng cô bé. Nhưng bức rèm đã gần thành tro, còn những cây suốt bằng sắt thì đỏ rực. George trèo lên một cái ghế, giật tất cả những thứ đang cháy và kêu cứu. Không có chú thì cả căn nhà đã làm mồi cho thần lửa.

Quan Đại tướng và phu nhân đem cô bé Emily ra tra hỏi ngọn ngành. Cô nói:

– Con đã đánh một cái diêm, có mỗi một cái thôi. Nó bùng lên và cái rèm cũng bùng lên nốt. Con nhổ nước bọt, cố hết sức nhổ để dập tắt. Khi hết nước bọt, con chạy đi trốn, sợ ba má giận.

Đại tướng phu nhân nói:

– Nhổ! Con nói cái tiếng gì thế? Có bao giờ con thấy ba má nói tiếng đó không? Chắc con lại học được của cái bọn dưới nhà hẳn?

Dẫu sao George cũng được một hào tiền thưởng công. Chú không đi mua bánh ngọt mà bỏ vào ống tiền để dành. Chẳng bao lâu chú đã có đủ tiền mua một hộp bút chì màu để tô tranh vẽ của chú cho rực rỡ, vì George hay vẽ lắm. Nom những ngón tay nhỏ nhắn của chú sai khiến cái bút chì thật là tuyệt khéo. Chú đem tặng những bức tranh màu đầu tiên cho Emily, quan Đại tướng khen: “Thật là tuyệt!”. Ngay Đại tướng phu nhân cũng phải đồng ý là mọi người đều nhận ra rất rõ những cái mà chú bé muốn diễn tả. “Thằng bé có thiên tài đấy!”. Đó là những lời mà bà gác cổng nghe thấy và chạy xuống hầm kể lại.

Quan Đại tướng và phu nhân đều là những người quyền quý. Các ngài đã cho sơn lại hai bên xe ngựa mỗi bên một tấm gia huy của riêng mình. Phu nhân còn cho thêu lên từng chiếc áo quần hình hai chiếc gia huy đó, một chiếc vào mặt phải, một chiếc vào mặt trái, thêu vào những túi đựng đồ đi du lịch và cả mũ trùm đầu đi ngủ. Gia huy nhà phu nhân là do cụ thân sinh mua rất đắt, mất vô khối là tiền mặt, trả bằng đồng “denier”[27] đếm mỏi cả tay. Khi mới sinh ra cả cụ thân sinh lẫn phu nhân đều không phải là dòng dõi quyền quý; phu nhân đã ra đời trước tấm gia huy bảy năm. Hầu hết mọi người đều nhớ tới chuyện ấy, nhưng phu nhân thì không mảy may nhớ đến.

Gia huy của quan Đại tướng thì cổ kính và rắc rối. Đeo cái loại gia huy ấy phải đứng ưỡn người ra, xương kêu răng rắc. Không biết có thêm những chiếc khác nữa thì làm thế nào? Bởi thế cho nên người ta nghe thấy xương Đại tướng phu nhân kêu lên răng rắc mỗi khi bà ấy thẳng đừ trong bộ quần áo diện nhất, leo lên xe để vào triều dự hội khiêu vũ.

Quan Đại tướng đã già, tóc đã bạc. Nhưng khi cưỡi ngựa thì trông ngài cũng ra vẻ lắm. Ngài biết thế lắm nên ngày nào ngài cũng đi ngựa: một chú lính hầu theo sau ngài một quãng rõ đúng kiểu cách. Khi ngài tiến vào phòng khách, người ta vẫn tưởng như ngài vẫn còn chót vót trên lưng con ngựa cao lớn của ngài. Còn mề đay thì ngài có nhiều vô kể, chằng chịt nặng trĩu cả người. Nhưng cái đó thực ra không phải lỗi tại ngài. Ngài vào quân đội từ ngày còn trẻ măng. Ngài vẫn thường dự những cuộc hành quân tập trận nhỏ mà quân đội vẫn tiến hành vào mùa thu trong thời bình. Về vấn đề ấy ngài thường kể một giai thoại, và ngài cũng chỉ biết có mỗi chuyện ấy thôi.

Một hôm, một sĩ quan dưới quyền ngài cắt đứt đường rút lui của một ông hoàng và bắt được Đức ông cùng với cả đoàn tùy tùng làm tù binh. Ông hoàng và đoàn tùy tùng theo hầu, với tư cách là tù binh, phải đi ngang qua thành phố, theo sau vị tướng thắng trận. Đó là một sự kiện đáng ghi nhớ mà quan Đại tướng năm nào cũng kể đi kể lại. Ngài kể lại một cách trung thành những lời mà ngài đã nói khi trao trả lại cho ông hoàng thanh kiếm: “Chỉ có một hạ sĩ quan mới bắt được Đức ngài làm tù binh; tôi thì chẳng bao giờ có thể làm thế được”. Ông hoàng đã trả lời ngài: “Ông thật là người có một không hai”.

Quan Đại tướng chưa hề ra trận thật bao giờ. Có lần nổ ra chiến tranh thì ngài lại được cử đi làm sứ thần sang ba triều đình. Ngài nói tiếng Pháp rất thạo, đến nỗi gần quên cả tiếng mẹ đẻ. Hơn nữa, ngài khiêu vũ rất thạo. Bởi thế cho nên mề đay mọc trên ngực ngài như cỏ mọc ngoài đồng. Lính gác bồng súng chào ngài. Một trong những cô gái trẻ đẹp nhất xã hội Đan Mạch cũng kính phục ngài và trở thành Đại tướng phu nhân. Họ sinh được một cô con gái tuyệt mỹ; cô bé xinh đẹp đến nỗi người ta bảo rằng con giời cho. Đó là cô Emily của chúng ta. Thoạt đầu con trai bác gác cổng nhảy múa ngoài sân trước mặt cô để mua vui cho cô; rồi về sau lại cho cô những tấm tranh tự tay chú vẽ và tô màu. Cô bé Emily xem tranh, lấy làm vui thích tợn, nhưng rồi xé luôn. Thế nhưng cô vẫn ngoan làm sao!

Đại tướng phu nhân bảo:

– Cánh hồng của ta ơi, con sinh ra để sánh vai với một ông hoàng.

Ông hoàng chẳng phải đâu xa: ở ngay trước cửa ấy. Nhưng cũng chẳng ai biết gì cả, người ta chẳng bao giờ nhìn xa quá ngưỡng cửa. Một hôm bác gác cổng gái nói với chồng rằng:

– Hôm kia con giai chúng mình đã chia nhau với tiểu thư cái bánh ngọt của nó: bánh chẳng có nhân thịt mà cũng chẳng có pho-mát; nhưng cô bé thì lại cho là rất ngon, cứ như ba-tê ấy. Nếu Đại tướng hoặc phu nhân mà trông thấy bữa ăn thì lại lắm chuyện! Nhưng ngài chẳng chẳng biết gì cả.

George đã chia xẻ tấm bánh của mình cho cô bé Emily. Chú cũng sẵn lòng chia sẻ trái tim cho cô nếu điều đó có thể làm cho cô vui thích. Chú thường theo học lớp vẽ buổi tối. Cô bé Emily cũng đi học, cô nói tiếng Pháp với vú em và đã bắt đầu học nhạc.

Bác gác cổng nói với chồng:

– Thế là thằng George sắp sửa phải chịu lễ ban thánh thể vào lễ Phục sinh này rồi.

Ông lão nói:

– Tốt hơn hết là cho nó đi học. Phải chọn cho nó một nghề nghiệp chắc chắn. Như thế thì nhà này sẽ vắng nó.

Bà lão trả lời:

– Bao giờ mà nó chẳng ngủ ở nhà. Có chủ nào lại cho thợ học việc ngủ trong nhà bao giờ. Chúng mình vẫn phải may mặc cho nó. Thế thì thà giữ nó ở nhà còn hơn. Chúng ta cũng có thể bòn đủ nuôi miệng nó: vài củ khoai, thế là nó bằng lòng rồi. Nó đi học vẽ không mất tiền. Thầy giáo nó đã chẳng bảo: “Cứ để cho nó theo đuổi”, rồi sau này nó sẽ làm cho chúng ta sung sướng hay sao?

Quần áo mặc ngày lễ ban thánh thể đã may xong. Mẹ George đã tự tay khâu lấy. Bác thợ may hàng xóm, vốn là một người khéo tay, đã cắt hộ. Bác gác cổng gái bảo:

– Nếu ông ta có thể có một cửa hàng lớn với đủ thợ học việc ở một phố lớn thì ông ta sẽ trở thành thợ may của nhà vua.

Quần áo đã may xong và George cũng đã sẵn sàng. Đến ngày đại lễ, chú được ông bố đỡ đầu là một người làm công già ở hiệu buôn sắt tặng cho một chiếc đồng hồ quả quýt to bằng bạc cũ kỹ và đã qua tay nhiều người. Nó vẫn chạy nhanh nhưng như thế còn hơn chạy chậm. Đó là một món quà rất quý.

Cô tiểu thư bé nhỏ mà George vẫn tặng tranh gửi cho chú một tập thánh thi[28] bọc da. Trên đầu quyển sách có ghi tên George và Emily với những chữ: “Người bảo hộ thân ái của anh”. Câu đó do Đại tướng phu nhân đã đọc cho cô bé viết từng chữ. Quan Đại tướng đã xem và bảo: “Thật là tuyệt”.

Bác gác cổng nói:

– Thật là một biểu hiện hào hiệp của những con người dõng dõi quyền quý.

George phải mặc quần áo đẹp, cầm quyển thánh thi lên gác để trình diện và tạ ơn.

Đại tướng phu nhân quấn khăn san và áo choàng ngồi trên ghế xô pha. Ngài đang bị một cơn rức đầu ghê gớm, thường hay mặc vào những lúc buồn phiền. Ngài cố giữ vẻ không dịu dàng lắm đối với George, chúc chú mọi sự may mắn, nhất là không bao giờ mắc chứng rức đầu.

Quan Đại tướng đang đi dạo trong bộ áo ngủ, đầu chùm chiếc mũ có ngù lớn. Ngài đi một đôi ủng Nga có sọc đỏ. Chìm đắm trong sự suy nghĩ hoặc trong hồi ức của mình, ngài đi đi lại lại bảo: “Thế là thằng bé George được nhận vào hàng ngũ con chiên! Hãy trở nên một người lương thiện và phải tôn trọng Nhà nước. Làm đúng lời răn thì mày sẽ khá và về già mày có thể tự nhủ rằng chính là quan Đại tướng đã dạy mày như thế”

Nói liền một mạch như vậy là quá nhiều so với thói quen của quan Đại tướng. Bởi thế cho nên ngài lập tức trở lại trầm tư mặc tưởng; ngài có một vẻ nghiêm nghị rất thích hợp với con người của ngài. Nhưng trong tất cả những cái mà George nghe thấy và trông thấy hôm ấy, trên gác, chỉ có hình ảnh cô bé Emily là khắc sâu vào trí nhớ của chú, không thể nào phai nhạt được, hơn tất cả mọi cái khác. Dịu dàng, thanh tao và đáng yêu, trông cô như một con chim non đang bay nhảy. “Có lẽ phải vẽ cô ta lên một cái bong bóng xà phòng”. George tự nhủ khi nghĩ đến cái vật trong trong lơ lửng ấy. Những búp tóc to vàng óng của cô tỏa ra một hương thơm như hoa hồng mới nở. Chính với nàng tiên ấy, con người thần tiên ấy, năm nào chú đã cùng chia sẻ tấm bánh ngọt và cô bé đã ăn phần của mình một cách ngon lành, cứ mỗi miếng lại gật đầu với chú, tỏ vẻ hài lòng. Không biết cô có còn nhớ đến chuyện ấy hay không? Chắc là có và chính cô đã tặng chú quyển thánh thi đẹp đẽ này để cảm ơn chú.

Sau chuyện trên đây, đến tuần trăng đầu tiên năm đầu tiên chú ra giữa đồng, trong túi để một mẩu bánh, cầm quyển thánh thi mở ra bói một quẻ hậu vận ra làm sao. Vì người ta thường làm như thế và tin rằng những lời phân định của thánh không khi nào sai cả.

Chú mở quyển sách, bói đúng vào một đoạn thơ nói về sự tạ ơn, tiên đoán cho chú một hậu vận sung sướng. Chú mở ra lần thứ hai để xem bói số phận cô bé ra sao. Chú hết sức chú ý để đừng mở sách đúng vào đoạn nói về sự chết; nhưng chú mở toàn trang nói về chết chóc và mồ mả. George kêu lên để tự làm yên lòng: “Đó chỉ là những điều dị đoan”. Nhưng chú mới lo sợ làm sao khi ít lâu sau cô bé đáng yêu ốm liệt giường và xe của thầy thuốc ngày nào cũng đến đỗ trước cửa!

Bác gác cổng gái nói:

– Họ chả giữ được cô bé đâu. Ông Giời chí nhân rất sáng suốt khi định bắt ai về chầu.

Thế nhưng họ vẫn giữ được và cô bé thoát khỏi những sự đe dọa của lời bói toán. Khi cô đang an dưỡng, George vẽ tranh và gửi cho cô mua vui. Một hôm chú về lâu đài của Sa Hoàng, điện Kremlin cổ kính, với những ngọn tháp nóc tròn, trông như những quả bí khổng lồ vàng rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ít ra chúng cũng giống như thế trong bức tranh của George. Cô bé Emily xem thích lắm. Thế là George lại vẽ cho cô một loạt tranh mới, toàn nhà là nhà, vì chú nghĩ rằng cô bé sẽ vui chơi tưởng tượng đến vô số những vật xinh đẹp có thể có ở đằng sau những cửa lớn và cửa sổ trong tranh.

Chú vẽ một ngôi chùa Trung Quốc có mười sáu tầng, tầng nào cũng có chuông. Chú vẽ hai ngôi đền Hy Lạp, có cột đá cẩm thạch thanh nhã, tứ phía đều có bậc thang. Chú lại vẽ một nhà thờ Na Uy mà nhìn tranh cũng thấy rõ là làm bằng gỗ, tất cả đều được chạm trổ với một nghệ thuật lạ kì.

Nhưng cái tranh đẹp nhất là cái mà chú gọi là lâu đài của cô Emily, vì chú cho rằng cô phải được sống trong một ngôi nhà như thế. Chính chú nghĩ ra kiểu tòa nhà. Chú đã tập hợp vào đây tất cả những gì chú cho là đẹp nhất trong các lâu đài kia. Trong đó có những chiếc dầm chạm trổ như ở nhà thờ Na Uy; có những cột đá cẩm thạch như ở đền đài Hy Lạp; rồi tầng lầu nào cũng có chuông như ở những ngôi chùa ở Trung Quốc; cuối cùng trên mái có chụp những vòm óng ánh vàng như mái điện Kremlin của các Sa hoàng. Đó thật là một lâu đài trong những chuyện thần tiên.

Dưới từng cửa sổ George đã ghi rõ buồng ấy, phòng ấy dùng làm gì. Ví dụ: “Đây, Emily ngủ; chỗ này cô học nhảy; đây, cô chơi; chỗ này tiếp khách…

Nhìn vào tòa lâu đài ấy thật thích thú nên mọi người ngắm mãi không chán.

Quan Đại tướng khen:

– Thật là tuyệt!

Vị bá tước già, vì lúc ấy cũng có một vị bá tước già dòng dõi còn quý hơn cả quan Đại tướng, cũng có một tòa lâu đài; vị bá tước già ấy không nói gì cả. Ngài được nghe kể rằng tòa lâu đài ấy do một chú bé con trai người gác cổng tưởng tượng mà vẽ ra. Chú ta còn bé, bé lắm; nhưng không, nói thế khi quá vì chú đã được làm lễ ban thánh thể rồi. Vị bá tước già sau khi xem những bức tranh ấy, đã có chủ định nhưng còn giữ kín.

Đúng vào một buổi sáng giời xấu, xám xịt và ẩm ướt, thì ngày đẹp đẽ nhất, ngày sáng lạn nhất của George bắt đầu. Giáo sư viện Hàn Lâm gọi chú và bảo:

– Cậu bạn bé nhỏ của ta ơi, hãy nghe ta bảo! Thượng Đế đã sinh phúc phú cho cậu có tài lại còn run rủi cho cậu gặp những người nhân đức. Vị bá tước già ở góc phố gần đây đã nói với ta về cậu. Ta đã xem tranh cậu vẽ, chúng mình không cần bàn luận dài dòng; có nhiều chỗ cần phải sửa lắm. Nhưng, ngay từ ngày hôm nay trở đi, cậu có thể đến ta học vẽ mỗi tuần hai lần để lần sau cậu có thể vẽ khá hơn. Ta nghĩ rằng cậu thiên về kiến trúc hơn là hội họa. Rồi ra cậu cũng không còn đủ thì giờ suy nghĩ và lựa chọn. Bây giờ thì hãy đến gặp vị bá tước già để cảm ơn. Thượng Đế đã run rủi cho cậu gặp được ông ta trên đường đời.

Tòa nhà của vị bá tước ở góc phố đằng kia thật là to và đẹp. Xung quanh cửa sổ có chạm trổ hình voi, lạc đà, kì lân, tác phẩm của thời kì thời cổ. Tuy nhiên vị bá tước thích tất cả những tác phẩm đương thời, mặc dù người sáng tạo ra chúng là người ở trên gác, ở dưới hầm hay ở dưới mái nhà.

Bác gác cổng nói:

– Tôi cho rằng những con người dòng dõi càng cao quý bao nhiêu thì càng ít kiêu kì bấy nhiêu. Hãy xem cụ bá tước già đấy, sao mà cụ ấy giản dị và hòa nhã thế! Cụ ấy nói chuyện cứ như ông và tôi vậy. Quan Đại tướng và ngay cả phu nhân cũng không được như thế. Vì thế cho nên hôm qua thằng George mừng quýnh lên về sự tiếp đãi của cụ bá tước. Hôm nay vừa gặp được cụ lớn, tôi cũng thấy như thể. Cũng may mà chúng mình không gửi thằng George đi học thợ. Cụ bá tước đã bảo tôi là nó có năng khiếu đấy.

Ông bố nói:

– Đúng đấy, nhưng phải có người giúp thì nó mới làm nên được.

Bà mẹ đáp:

– Người ta sẽ giúp, cụ bá tước đã hứa chắc chắn với tôi như thế.

Ông bố bảo:

– Chắc có lẽ cũng có lời của quan Đại tướng. Chúng mình phải sang cảm ơn ngài mới được.

Bác gác cổng lại nói:

– Ừ mà phải đấy. Nhưng dẫu sao tôi cũng không hề tin rằng nhờ ông ấy mà chúng mình có diễm phúc này. Tôi cũng sẽ cảm ơn Thượng Đế và cầu nguyện cho cô bé Emily chóng mình phục.

Quả nhiên cô bé Emily đã khỏi hẳn. Cô lớn lên và đẹp ra và về phía mình, George cũng tiến bộ rất nhanh. Tại viện Hàn lâm, chú giành được huy chương bạc, rồi huy chương vàng.

Bác gác cổng gái vừa nói vừa khóc:

– Dẫu sao cho nó đi học nghề còn hơn. Có thế thì mới giữ nó được ở nhà. Nó đi La Mã[29] làm gì chả được? Tôi sẽ không bao giờ được gặp nó nữa, thằng bé thân yêu ấy, ngay cả khi nó trở về đây. Nhưng chắc nó chả muốn rời bỏ cái xứ mà người ta khen là đẹp đấy.

Ông bố nói:

– Đó là vì hạnh phúc của nó, nó đi như thế có lợi cho sự nghiệp của nó hơn, bà ạ!

Bà mẹ đáp:

– Ông an ủi tôi, tôi xin cảm ơn, nhưng bản thân ông cũng buồn chẳng kém gì tôi, ông ạ!

Thực ra cả hai vợ chồng ông đều rất buồn, vì đứa con trai sắp đi xa, dù rằng tất cả mọi người xung quanh đều bảo họ rằng thằng bé được như vậy là rất sung sướng và vinh dự. George từ biệt cha mẹ và cũng sang chào cả gia đình quan Đại tướng. Phu nhân không ra vì đang bị rức đầu ghê gớm. Còn quan Đại tướng vớ được dịp tốt, bèn kể ngay giai thoại độc nhất của mình, kể những lời ngài đã nói với ông hoàng và ông hoàng đã trả lời: “Ông thật là người có một không hai”. Đến đây ngài chìa cho George bàn tay mềm nhũn và như không có sinh khí. Emily cũng chìa bàn tay bé nhỏ cho George nom. Cô có vẻ hơi buồn nhưng chính George thì cảm thấy đau khổ thực sự.

Khi người ta làm việc thì thời gian trôi đi nhanh chóng. Ai cũng có thời gian như nhau, nhưng không phải ai cũng sử dụng thời gian tốt như nhau, mà cũng ai lợi dụng được thời gian như nhau cả. Cũng vì George lợi dụng thì giờ được nhiều nên chú thấy nó trôi qua nhanh chóng, trừ những lúc chú tưởng nhớ đến quê hương. Chú tự hỏi: “Chẳng biết những người ở nhà ra sao rồi, kể người nhà dưới lẫn người nhà trên”.

Chú nhận được nhiều lá thư và trong thư thì có nhiều chuyện lắm, có những tin như ánh nắng nồng nàn, sưởi ấm lòng ta, lại có những tin dìm ta vào bóng đêm dày đặc nhất. Những tin này nằm trong lá thư báo cho George biết là cha chú đã mất, còn hiện mẹ chú đang ở góa một mình. Trong thư còn nói thêm: Emily giống như một nàng tiên thường hay xuống bên người thiếu phụ đáng thương để an ủi và cô đã hết sức can thiệp đến nỗi người ta phải giao cho bà nhiệm vụ gác cổng.

Đại tướng phu nhân có một quyển nhật kí trong đó bà thường ghi những buổi hội họp, những buổi khiêu vũ mà bà đã đến dự, cả tên những khách đã đến thăm bà. Cuốn nhật kí quý giá ấy được minh họa bằng những tấm danh thiếp của các nhà ngoại giao và các vị tai to mặt lớn khác. Phu nhân lấy làm tự hào rằng cuốn nhật kí của mình ngày càng dày cộm mãi lên. Đó là niềm an ủi của ngài trong những cơn nhức đầu ghê gớm hay ngài mệt rũ ra sau một đêm khiêu vũ trong triều.

Đến ngày đầu tiên Emily đi dự khiêu vũ trong cung. Tối hôm ấy Đại tướng phu nhân mặc quần áo màu đỏ nhạt viền đăng ten màu đen, theo kiểu Tây Ban Nha, tiểu thư bận đồ trắng, hàng tuyn và sa mỏng nhẹ như mây. Trông nàng như là hiện thân của sự kiều diễm. Những dải lụa xanh như những cây lau mềm mại lẫn vào những búp tóc vàng của nàng, trên đó quấn một vòng hoa khê tôn màu trắng. Với cặp mắt sáng ngời tuổi xuân và cái miệng hồng xinh xinh, nàng giống như một tiên nữ trẻ đẹp nhất trong trí tưởng tượng của mọi người. Ba ông hoàng khiêu vũ với nàng, tất nhiên là phải lần lượt. Trong tám ngày liền, Đại tướng phu nhân không bị nhức đầu. Tiếp sáu cuộc khiêu vũ đầu tiên ấy là nhiều cuộc khác, nhiều đến nỗi ảnh hưởng đến sức khỏe của Emily; vừa may mùa hạ tới, nhờ đó nàng được nghỉ ngơi và hưởng không khí trong lành nơi thôn dã. Cả gia đình quan Đại tướng đi nghỉ mát một thời gian dài tại lâu đài vị bá tước già. Nơi đó có một khu vườn đáng chú ý, theo kiểu cổ; hai bên lối đi, có hàng rào sửa sang, thẳng tắp bằng kéo thành hình trên những bức tường, đây đó là những lỗ trông như những cửa sổ tròn. Có những cây hoàng dương và thủy tùng cắt thành hình ngôi sao hay hình kim tự tháp. Nhiều tia nước phun ra từ những miệng hang dát đầy vỏ hầu vỏ hến. Tứ phía là những pho tượng có nét mặt đầy đặn xinh đẹp, quần áo sang trọng tạc bằng một loại đá cẩm thạch hiếm có. Tất cả các luống hoa đều có hình các gia huy hoặc các chữ cái đầu tiên. Đó là phần vườn sắp đặt theo kiểu Pháp. Tiếp đó là một nhóm rừng nhỏ xanh mát; những cây to và khỏe thả sức mọc. Rồi đến những đám cỏ dày, những bồn cỏ đi trên cứ như bước trên thảm. Đó là phần vườn xếp đặt theo kiểu Anh. Vị bá tước nói:

– Thưa các ngài, đây là thời cổ và thời kim cũng có mặt, đây ít ra cả hai thời cùng hòa hợp và làm tôn giá trị của nhau lên. Trong hai năm nữa, sẽ đến lượt tòa lâu đài biến đổi. Tôi sẽ trình bày đồ án với các ngài và cũng sẽ giới thiệu ông kiến trúc sư với các ngài. Ông ta sẽ dự bữa cơm tối với chúng ta.

Quan Đại tướng nói:

– Thật là tuyệt!

Đại tướng phu nhân lại nói:

– Tòa dinh thự này thật là chốn thiên đường. Đằng kia ngài lại có cả một vọng lâu đài thời cổ.

Bá tước nói:

– Tôi đã dùng nó làm nơi nuôi gà vịt, mà cũng chỉ có dùng vào việc ấy được thôi. Chim sơn ca làm tổ trên các ngọn tháp, gà tây ở trong buồng gác lớn thứ nhất, còn tầng dưới thì do mụ Elsie trị vì. Chính mụ cai quản đám gà mái ở phía bên phải và đám gà giò bên trái. Ở đấy đàn vịt cũng được một chỗ có lối thông ra ao.

Quan Đại tướng nhắc lại:

– Thật là tuyệt!

Họ lại tiếp tục đi thăm cái đám dân cư thú vị ấy. Bà lão Elsie đang đứng chỉ huy. Bên cạnh là George, nhà kiến trúc sư. Từ bao lâu nay, đây là lần đầu tiên anh và Emily gặp nhau; họ lại trông thấy nhau trong cái vọng lâu này bây giờ chỉ là chỗ nuôi gà vịt.

Anh đứng đấy và quả thật là một đấng tu mi nam tử với khuôn mặt cởi mở, kiên nghị, với bộ tóc đen bóng. Anh đang để cho người ta ngắm nghía. Trên môi anh nở một nụ cười tự hào như bảo rằng: “Đằng sau tai này này, tôi có một bộ óc tinh khôn thấu hiểu tâm can các ngài”.

Bà lão Elsie đã tụt guốc ra để tỏ lòng tôn kính các vị khách quý phái. Bà chỉ đi bít tất thôi và cho như thế là nhã. Gà mái kêu cúc cúc, gà trống gáy cúc cù cu. Lũ vịt lạch bạch vừa lảng ra vừa kêu cạc cạc.

Còn thái độ người thiếu nữ kiều diễm tình cờ gặp lại người bạn thuở nhỏ ra sao? Đôi má ửng đỏ hẳn lên. Đôi mắt to của nàng mở rộng hơn. Đôi môi động đậy, nhưng chẳng nói được một lời. Thật là một sự hậu đãi đối với một chàng trai trẻ khi thấy một thiếu nữ không phải là họ hàng và cũng chưa khiêu vũ bao giờ mà lại đối xử với mình như vậy.

Bá tước cầm tay chàng thanh niên và giới thiệu với khách. Ông nói:

– Đây chẳng phải người xa lạ với các ngài, chính là anh bạn trẻ George của chúng ta.

Đai tướng phu nhân nghiêng mình với một vẻ hào hiệp của người bề trên. Emily suýt nữa thì chìa tay cho George nhưng lại thôi. Đại tướng bảo:

– Đúng là ngài George trẻ tuổi của chúng ta! Thế ra chúng ta là những người cố tri cả! Thật là tuyệt!

Đại tướng phu nhân nói:

– Chắc anh gần thành người Ý và nói tiếng Ý như người sinh ra ở La Mã đấy nhỉ?

Đại tướng ngắt lời:

– Phu nhân ta không nói được nhưng hát được tiếng Ý đấy.

Một lát sau, George được ngồi vào bàn ăn phía bên phải Emily. Anh nói, kể chuyện và kể rất hay. Anh tả một vài thứ tuyệt diệu mà anh đã được xem. Trong bữa ăn, với sự giúp đỡ của vị bá tước già anh đã mang sự hiểu biết của mình làm náo nhiệt cả bữa tiệc. Emily im lặng, nàng vui lòng ngồi nghe, nhưng đôi mắt sáng long lanh hơn cả kim cương.

Dưới hàng hiên nàng và George đứng cạnh nhau giữa đám hoa. Họ dạo chơi theo dọc một dãy cây hồng.

George nói:

– Tôi hết sức cám ơn cả về lòng hảo tâm của cô đối với bà mẹ già của tôi. Tôi biết là cô đã ở bên bà mẹ tôi cái đêm cha tôi chết và cô chỉ rời đi sau khi cha tôi đã vĩnh viễn nhắm mắt. Một lần nữa, xin cám ơn cô nhiều lắm.

Gặp cơ hội thuận tiện, anh cầm tay người thiếu nữ và trân trọng đặt lên một chiếc hôn.

Emily đỏ bừng mặt, xiết chặt tay anh, nhìn anh bằng đôi mắt xanh thẳm, xinh đẹp và nói:

– Mẹ anh có một tâm hồn rất đáng quý. Bà yêu quý con trai biết bao! Tất cả những lá thư của anh bà đều nhờ tôi đọc cho bà nghe. Do đó tôi vẫn biết tin anh. Vả lại, khi tôi còn bé anh đã chẳng đối xử rất tốt với tôi hay sao? Anh đã cho tôi nhiều tranh vẽ…

– Mà cô đã xé đi. – George nói

– Bức tranh anh vẽ tòa lâu đài của tôi thì không.

– Chính giờ đây là lúc mà tôi muốn xây nó lên.

Anh nói với vẻ nồng nhiệt làm cho người ta có thể đoán rằng anh có đủ tài và sức để xây được một tòa lâu đài tuyệt diệu biết dường nào cho người thiếu nữ.

Lúc đó trong phòng khách Đại tướng và phu nhân bàn tán với nhau về con trai người gác cổng của họ. Họ nhận xét với nhau rằng sao mà anh ta khéo học được cách cư xử đúng kiểu một người lịch sự như thế, sao mà anh ta ăn nói có duyên thế và những điều anh ta nói thú vị biết dường nào! Đại tướng phu nhân kết luận:

– Thật là một người trí thức.

Trong những ngày đẹp trời mùa hạ, ông George, giờ người ta gọi anh ta như thế, luôn luôn đến lâu đài bá tước. Khi người ta đợi mà anh không đến mọi người cảm thấy thiếu niềm vui anh vẫn thường mang tới khi anh đến chơi. Một hôm Emily bảo anh:

– Thượng Đế đã phú cho anh biết bao nhiêu tài hơn người khác. Anh có nhớ ơn người không?

Lúc ấy George cảm thấy vẻ vang và sung sướng hơn cả cái hôm được nhận huy chương vàng.

Hạ qua, đông tới, người ta tiếp tục bàn tán về George. Anh rất được coi trọng trong xã hội. Người ta sẵn lòng nhận anh vào những câu lạc bộ cao quý nhất. Quan Đại tướng cũng đã gặp anh một lần tại một cuộc khiêu vũ trong cung.

Đại tướng phu nhân mở một ngày hội mừng cô Emily. Ngài hỏi phu quân:

– Mời ông George liệu có giảm giá trị chúng mình đi không?

– Người mà nhà vua khoản đãi thì Đại tướng rất có thể đón tiếp được lắm chứ! – Ông ta vừa trả lời vừa xoay người một vòng rất duyên dáng.

Thế là ông George nhận được giấy mời và đến dự hội. Công hầu bá tước đều có mặt. Người này nhảy khéo hơn người kia một ít, nhưng đây chỉ là điều khác nhau duy nhất giữa khách khứa với nhau mà thôi. Emily chỉ nhảy một điệu bốn người đầu tiên mà thôi. Nàng trượt chân một cái, chẳng có gì là nguy hiểm; nhưng vì nàng cảm thấy hơi đau đầu, nên cẩn tắc vô ưu, nàng thôi không nhảy nữa. Nàng ngồi nhìn tất cả cái đám người lịch sự ấy quay tròn, nhảy nhót. Kiến trúc sư ngồi bên cạnh nàng. Đại tướng trông thấy, khi đi ngang ngài bảo chàng:

– Tôi tin rằng nếu có thể được thì anh sẵn lòng tặng nó cái kiệt tác của ngành kiến trúc: pháp đình St. Peter ở Cổ La Mã – Và ngài mỉm cười, nom cứ như ông Thiện vậy.

Vài hôm sau ngài đón tiếp ông George cũng vẫn nụ cười cởi mở ấy. Ngài tự hào: “Chắc hẳn anh chàng đến để cảm ơn mình đã mời anh đến dự hội, chứ chẳng còn duyên cớ nào khác”.

Nhưng anh chàng còn duyên cớ khác nữa. George nói lên những lời bất ngờ, phi thường và điên cuồng. Đại tướng không thể ngờ đến như vậy.

Nằm mơ cũng không đến nỗi như thế. Đại tướng không hết kinh ngạc kêu lên:

– Thật là không thể tưởng tượng được!

Thực tế, George đến xin cưới Emily. Đại tướng tím mặt nói tiếp:

– Anh nói gì thế? Tôi không thể hiểu anh được, thật không thể hiểu được, thật không thể hiểu được. Anh muốn… Nhưng, thưa ngài, tôi không quen biết ngài. Ai đã mớm cho anh dám to gan toan chui vào gia đình tôi? Tôi đã làm gì đến nỗi phải nhục đến như thế?

Thẳng đuỗn như khúc gỗ, ngài đi giật lùi vào phòng ngủ và bỏ mặc ông George một mình. Chàng ta đứng đợi vài phút xem Đại tướng có ra không để cáo từ ra về.

Emily đứng đợi ngoài hành lang, hỏi anh bằng một giọng run run:

– Ba em bảo thế nào hở anh?

George nắm chặt tay nàng:

– Ba em tránh không để cho anh kịp trình bày. Nhưng chúng mình đừng thất vọng, rồi cũng sẽ có cơ hội tốt.

Đôi mắt người thiếu nữ đẫm lệ, còn chàng trai thì ngời lên vẻ tự tin và quả cảm. Ánh nắng xuyên qua mây, bao trùm lấy họ, dường như đem đến cho họ sự họ sự phù hộ của Thượng Đế.

Đại tướng ngồi trong phòng, chưa trấn tĩnh lại được sau một cơn xúc cảm như vậy. Ngài run lên vì tức giận và phẫn nộ. Cơn tức giận của ngài sục sôi trong lòng, rồi toát ra ngoài thành những tiếng kêu la tức tối:

– Điên rồ thật. Con một thằng gác cổng! Ôi! Loạn thật! Có ai thấy thế bao giờ không?

Non một giờ sau, đến lượt Đại tướng phu nhân biết sự táo gan phi thường của George. Ngài gọi Emily đến nói riêng với nàng:

– Con gái đáng thương của mẹ! Ta hiểu rõ nỗi đau khổ của con. Nó dám làm nhục con đến thế! Dám phạm đến danh giá nhà ta đến thế! Thật là ghê tởm! Con khóc là phải lắm; vả lại nước mắt tuôn rơi lại hợp với khuôn mặt con, chưa bao giờ con gái của mẹ lại đẹp như thế này; con giống hệt như mẹ dạo sắp cưới, cứ khóc, khóc nữa đi, con gái yêu quý của mẹ, khóc như thế là tốt đấy.

Emily đáp:

– Vâng, con sẽ khóc suốt đời nếu ba mẹ không ưng thuận.

– Trời! Con gái mẹ nói gì thế? – Đại tướng phu nhân kêu lên. – Con mất trí rồi hay sao? Trời đất đảo lộn rồi ư? Ôi! Ta cảm thấy sắp bị một cơn rức đầu chưa từng thấy bao giờ. Nhà ta thật là vô phúc. Emily, đừng bắt mẹ con phải chết vì buồn phiền.

Đến đây, nước mắt phu nhân đã ròng ròng vì chưa bao giờ phu nhân dám nghĩ đến chuyện chết.

Tờ báo hàng ngày đăng tin: Ông George được phong giáo sư Hàn lâm Viện Mỹ thuật.

Hai vợ chồng người gác cổng mới sống trong căn nhà hầm, xưa kia cha mẹ George đã từng ở, và được biết rằng George đã sinh trưởng nơi đó, bảo nhau:

– Tiếc thay cho cha mẹ ông ta không còn sống nữa mà đọc tờ báo ngày hôm nay. Phen này ông ta sẽ phải đóng nhiều thuế đấy.

– Con nhà nghèo mà phải đóng như thế có nhiều không?

– Mười tám đồng tiền vàng một năm, phải, cũng nhiều đấy!

– Tôi không nói đến chuyện tiền, mà nói đến chuyện ông ta được nhận chức kia, thật là vinh hiển cho một người xuất thân như ông ta. Còn về tiền thì đối với ông ta vài chục đồng vàng cũng chẳng khó khăn gì. Ông ta muốn kiếm bao nhiêu mà chẳng được và thế nào ông ta chẳng lấy được cô vợ giàu. Này, bao giờ ta được đứa con trai phải cho nó làm kiến trúc sư hay giáo sư mới được.

Dưới nhà hầm người ta khen George thì trên gác người ta cũng ca tụng chàng. Vị bá tước già cũng khen chàng. Những bức tranh George vẽ hồi bé đã tạo cho ông được dịp để khen chàng. Mà sao câu chuyện lại dẫn tới những bức tranh ấy nhỉ? Chả là người ta nói chuyện với nhau về nước Nga, điện Kremlin mà chú bé George xưa kia đã vẽ tặng cô Emily, bá tước bảo:

– Hồi ấy anh ta đã vẽ nhiều lắm rồi và tôi còn đặc biệt nhớ đến tòa lâu đài mà anh ta đặt tên là lâu đài của Emily. Đó là một người có tài; anh ta sẽ trở thành cố vấn trong triều, mà còn là cố vấn thân cận của nhà vua nữa. Biết đâu một ngày kia anh ta sẽ lại chẳng xây lên được tòa lâu đài sáng tạo từ hồi còn bé. Tại sao lại không nhỉ? – Nói vậy ông mỉm cười rồi ra về.

Đại tướng phu nhân lẩm bẩm:

– Vui gì mà lạ thế chả biết được!

Đại tướng nghiêm nghị lắc đầu. Ngài lên ngựa, ngồi một cách kiêu hãnh hơn bao giờ hết. Giờ hồn cho chú lính hầu, nếu không đi cách xa ngài một quãng đúng kiểu cách.

Đến ngày sinh nhật Emily. Nàng nhận được nhiều hoa, sách vở, thư từ và thiếp mừng. Đại tướng phu nhân hôn vào môi nàng; Đại tướng hôn vào trán nàng. Hai ngài rất quý con, việc đó bất tất phải nói đến. Đến chiều khách khứa đến thăm toàn là những người quyền quý, có cả hai ông hoàng nữa. Người ta bàn đến chuyện khiêu vũ, chuyện trị an, chuyện xem hát, tình hình Châu u, việc trong nước, những người có tên tuổi toàn quốc hiện nay, và cứ như thế, không tránh khỏi rơi vào câu chuyện chàng kiến trúc sư.

Một vị khách nói:

– Hiện nay ông ta đã tự tạo cho mình một tiếng tăm lừng lẫy. Rồi đây ông ta có thể xây phòng riêng trong nhà một vị quyền quý nhất trong chúng ta đấy.

Một lát sau Đại tướng bảo vợ:

– Một trong những nhà quyền quý nhất của chúng ta là ai thế nhỉ?

Phu nhân trả lời:

– Tôi biết ý người ta muốn nói ai rồi. Nhưng tôi không muốn nói ra, mà cũng chẳng muốn nghĩ đến. Chúng ta tin là muôn sự tại trời cả; nếu xảy ra chuyện như thế thì trên đời này tôi sẽ không còn ngạc nhiên với bất cứ chuyện gì cả.

Vị khách nói ra câu ấy biết rõ cái điều mình nói lắm. Ông ta biết rõ ân huệ của bề trên, nghĩa là ân huệ của triều đình mà hiển nhiên là càng ngày George càng được hưởng nhiều, rất có hiệu lực. Trời lại phù hộ chàng một cách rõ rệt trong tất cả mọi công việc. Nhưng ta hãy trở lại chuyện ngày sinh nhật.

Buồng nàng Emily sực nức hương thơm của bó hoa do bạn bè tặng. Trên bàn đầy những quà biếu. Không có quà của George; mà anh có muốn tặng cũng không được. Tuy nhiên, anh ta vắng mặt cũng như có mặt. Cái gì trong nhà mà chẳng gợi lại hình ảnh chàng? Dưới cầu thang vẫn là cái ngăn Emily đã trốn vào khi rèm cửa bốc cháy và George chạy đến dập tắt. Ngoài sân vẫn còn cây dạ hợp mà năm xưa hai đứa vẫn chơi đùa với nhau dưới bóng. Đang mùa đông nên cành cây đầy sương giá và băng tuyết nom như một cành san hô vĩ đại màu trắng đang sáng lấp lánh dưới ánh trăng, vẫn cái ánh trăng chưa thay đổi từ cái ngày đang ghi nhớ mà George đã chia sẻ chiếc bánh ngọt với cô bé Emily.

Nàng Emily lấy ra một chiếc hộp xinh đẹp; nàng rút trong đó ra những bức vẽ cũ của George, tòa lâu đài của các sa hoàng, tòa lâu đài của Emily; nàng ngắm nghía và biết bao ý nghĩ kéo đến trong tâm tư. Nàng nhớ đến hôm trốn cha mẹ, nàng xuống bên bà gác cổng hiền lành đang hấp hối. Nàng ngồi cạnh, cầm tay bà và nghe những lời giối giăng của người mẹ đáng thương: “Trời… phù hộ… George”. Emily thấy rằng ước nguyện của người đàn bà đáng quý ấy đã được thực hiện và Trời đã phù hộ con bà.

Các bạn đã thấy rõ ràng là ông George cũng có đến dự hội đấy chứ.

Ngày hôm sau, đến lễ sinh nhật quan Đại tướng. Trên lịch, ngày sinh của Emily và cha nàng sát cạnh nhau như thế đấy. Quà biếu lại đến tới tấp, trong đó có một chiếc yên ngựa tuyệt vời, hoàn mỹ, kiểu cách cực đẹp, vừa tiện dùng, vừa sang trọng. Người ta chỉ có thể kể đến một ông hoàng có một chiếc yên cũng đẹp như thế mà thôi. Ở đâu ra món lễ vật làm Đại tướng trông vui thích đến thế? Chỉ có một mảnh giấy nhỏ buộc vào yên ngựa trên có viết hàng chữ: “Của một người mà quan Đại tướng không quen biết”.

Đại tướng tự hỏi: “Cái người mà không quen biết là ai ấy nhỉ? Xem nào, cố nghĩ xem. Nhưng không, chẳng có ai mà lại không quen biết, ta quen tất cả mọi người, tất cả mọi người”.

Trong khi nói như thế, Đại tướng chỉ nghĩ đến phái thượng lưu mà đúng là ngài quen biết từ đứa trẻ con nằm trong nôi trở lên.

Ngài lại tiếp: “Ta đoán ra rồi, quả này là của vợ ta đây. Chắc bà ấy muốn đùa mình một bữa ra trò đây. Thật là tuyệt!”.

Ít lâu sau, tại nhà ông hoàng có mở một dạ hội khiêu vũ lớn, cho đeo cả mặt nạ và ăn mặc giả trang. Đại tướng đến dự mặc quần áo kiểu Rubens[30]: áo Tây Ban Nha, cổ áo xếp, áo choàng ngoài, kiếm đeo bên sườn. Đại tướng vốn oai vệ nên mặc quần áo quý phái Tây Ban Nha ấy rất hợp. Tất nhiên phu nhân cũng mặc theo kiểu Rubens: áo dài nhung đen cao đến tận cằm, với một cái cổ xếp vĩ đại trông giống như một chiếc cối xay lồng vào cổ, dập đúng kiểu vẽ trong bức tranh Hòa Lan của Đại tướng. Trong bức chân dung ấy người ta chú ý nhất đến đôi tay. Tay của phu nhân cũng giống hệt như thế.

Emily cũng ăn mặc giả Psyche[31], bận toàn hàng sa mỏng và đăng ten. Nàng cử động nhẹ nhàng, đáng yêu đến nỗi người ta cứ tưởng như là sợi lông tơ thiên nga bay theo chiều gió nhẹ. Bộ quần áo có hai cánh, nhưng có bảo là nàng chẳng cần đến cánh cũng không phải là khen nịnh nhạt nhẽo.

Phòng dạ hội đầy hoa, ánh sáng và những vật tráng lệ; có nhiều thứ đẹp, đáng ngắm làm cho người ta không mảy may chú ý đến đôi tay đẹp của Rubens phu nhân. Một người cải trang giáo sĩ có khăn trùm mặt, trên mũ đính hoa dạ hợp nhảy với Psyche.

Đại tướng phu nhân hỏi:

– Ai thế?

Đại tướng trả lời:

– Hoàng tử đấy! Tôi chắc là như vậy vì tôi đã nhận ra ngài qua thái độ trìu mến lúc ngài hạ cố bắt tay tôi.

Phu nhân có vẻ không tin. Quan Đại tướng không dễ dàng chịu để ai ngờ vực sự sáng suốt của mình, tiến gần đến người bận đồ giáo sĩ trùm mặt màu đen, cầm lấy tay người ấy và lấy ngón tay trỏ của mình vẽ lên hình huy chương của Hoàng gia. Người bận đồ giáo sĩ lắc đầu không nhận, và nói:

– Danh hiệu của tôi là danh hiệu viết trên một thứ lễ vật mừng ngày sinh nhật của ngài: một người mà ngài không quen biết.

Đại tướng lại nói:

– Thế thì tôi biết ngài là ai rồi. Chính ngài đã gửi biếu tôi tấm yên ngựa.

Người bận đồ giáo sĩ không nói gì nữa và biến vào đám đông.

Đại tướng phu nhân bảo:

– Emily, cái người mặc đồ giáo sĩ màu đen nhảy với con là ai đấy?

Psyche trả lời:

– Con không hỏi tên chàng ta! – Vì cô đã biết rồi, đó là vị giáo sư chứ ai.

Đại tướng phu nhân nói tiếp với vị bá tước già:

– Người mà ông bảo trợ cũng có đây; anh ta mặc một bộ đồ giáo sĩ trùm mặt màu đen có đính hoa dạ hợp trên mũ.

Bá tước trả lời:

– Thưa quý bà rất kiều diễm, có thể như vây; phải chăng bà cũng nên biết rằng có một hoàng tử ăn mặc như thế đấy.

Đại tướng nói:

– Đúng, đúng đấy. Tôi đã nhận đúng là hoàng tử qua cái bắt tay trìu mến của ngài và chính ngài đã mừng tôi chiếc yên ngựa. Tôi phải đến mời ngài ngày mai đến nhà tôi xơi cơm mới được.

Bá tước nói:

– Ngài đi mời đi, nếu là hoàng tử thì chắc chắn ngài sẽ nhận lời đấy.

– Nếu là anh chàng kia thì anh ta chẳng đến đâu. Vậy tôi có đi mời cũng chẳng có gì là trở ngại cả.

Và Đại tướng tiến đến phía người đang bận đồ giáo sĩ màu đen, vừa lúc ấy đang nói chuyện với nhà vua. Đại tướng mời một cách hết sức cung kính. Ngài mỉm cười nghĩ rằng người ta sắp sửa được biết là ngài đoán đúng hay phu nhân đoán đúng.

Người bận đồ giáo sĩ màu đen nhấc mặt nạ ra: đó là George.

Chàng hỏi:

– Bây giờ ngài có nhắc lại lời mời nữa hay không, thưa quan Đại tướng?

Đại tướng đứng thẳng mình, cao lên đến mười phân nữa; ngài cứng người ra, lùi lại hai bước, rồi lại tiến lên một bước như sắp sửa nhảy điệu Menuet[32].

Mặt ngài chuyển sang một vẻ cực kỳ nghiêm trang và biểu lộ đến mức cao nhất mà một vị tướng có thể có.

Cuối cùng ngài nói:

– Tôi không bao giờ nói hai lời cả. Thưa giáo sư, tôi đã mời ngài rồi.

Ngài nghiêng mình chào, mắt liếc nhà vua. Đức Hoàng thượng đã nghe thấy hết và có vẻ hài lòng.

Thế là ngày hôm sau nhà quan Đại tướng mở tiệc lớn. Nhưng khách chỉ có vị bá tước già và người được ông bảo trợ.

George tự nhủ: “Thế là ta đã đặt được hòn đá đầu tiên”.

Thật vậy, hòn đá mỏng đã được đặt một cách rất trang trọng và câu chuyện khó mà dừng lại ở đây được.

Đại tướng bảo phu nhân:

– Chàng trai này thật khéo cư xử và ăn nói có duyên thế! Trong xã hội thượng lưu người ta cũng chỉ nói chuyện lỗi lạc đến thế là cùng.

Sự thực là George đã nổi bật trong bữa tiệc ấy và chàng nói nhiều chuyện thú vị đến nỗi quan Đại tướng bị lôi cuốn và vô tình nhiều lần ngắt lời chàng bằng những câu: “Tuyệt! Tuyệt!”.

Quan Đại tướng kể chuyện bữa tiệc hôm ấy với một trong những bà có tài trí nhất trong triều và bà ta yêu cầu lần sau nếu giáo sư lại đến nhà ăn cơm thì Đại tướng sẽ mời bà ta cùng dự. Thế là lại phải mời giáo sư lần nữa và lần này George lại còn xuất sắc hơn lần trước.

Bây giờ người ta mới biết là anh cũng đánh được cờ, món chới say mê của Đại tướng,

Ngài tự nhủ:

– Đây không phải là con nhà hèn kém mà là con nhà có tài năng. Không ai có thể bắt mình bỏ cái quan niệm ấy đi được. Sao mà nó lại sinh ra ở dưới hầm nhỉ? Mình không tự giải đáp được điều đó, nhưng dù sao cũng chẳng phải lỗi của anh chàng.

Ngài giáo sư được nhà vua tiếp trong cung tất nhiên cũng có thể được nhận vào nhà Đại tướng. Việc đó chẳng có gì là đáng ngạc nhiên cả. Cả thành phố đồn rằng chẳng bao lâu nữa ông ta sẽ đến ở hẳn đấy chứ chẳng chơi đâu. Nhưng trong nhà Đại tướng thì chẳng ai nói gì đến chuyện ấy cả.

Dẫu sao sự việc đã xảy ra đúng như lời đồn đại. George chịu ơn mưa móc, được phong làm cố vấn thân cận của nhà vua. Emily trở thành cố vấn phu nhân. Từ triều đình cho tới thành phố chẳng ai thấy chuyện đó là chướng cả.

Đại tướng còn triết lý rằng:

– Cuộc đời lúc thì là bi kịch, lúc thì lại là hài kịch. Trong tấn bi kịch thì xảy ra chết chóc, trong tấn hài kịch thì người ta lấy nhau.

George và Emily sinh hạ được ba đứa con trai kháu khỉnh; khi những đứa trẻ đến nhà ông ngoại chơi và cưỡi trên ngựa gỗ thì ông cũng bắt chước chúng cưỡi trên một con ngựa gỗ, giả làm lính hầu, lính hầu của các quan cố vấn thân cận của nhà vua. Đại tướng phu nhân ngồi trên ghế gỗ xô pha nhìn chúng mỉm cười, ngay cả những khi ngài nhức đầu ghê gớm.

George đã hiển đạt như thế đó và với tài năng của anh, anh còn thăng tiến hơn nữa. Vả lại như thế mới bõ công kể truyện cho các bạn nghe truyện con trai người gác cổng.

Đánh giá

BÀI HAY NÊN ĐỌC