Bò béo bò gầy

Truyện cổ tích Việt Nam

BÒ BÉO BÒ GẦY

Ngày xưa khi ở thời của vua Lê chúa Trịnh, tại một làng nọ có đôi vợ chồng họ Lê là nho sinh. Nhân dịp ngày cuối năm nên họ cùng dắt nhau về thăm nhà, thăm quê ở trong thành. Họ đi xa làm ăn cũng được mấy năm rồi, cũng đã để dành ra được ít nhiều bạc đem về ý định là làm vốn để có thể sinh sống ở nơi quê nhà.

Trên đường về nhà, họ phải đi qua nơi bến đò Khuốt, sau đó lại đi thẳng vào giữa của làng Đa Giá thượng. Khi đến nơi này thì trời cũng đã về chiều, còn phân phất mưa. Vì vậy người chồng liền quyết định cả hai sẽ vào một quán nhỏ ven đường nghỉ lại một đêm.

Lúc bấy giờ ở làng Đa Giá thượng tồn tại một ổ gian phi rất lớn, bọn chúng chuyên môn cướp của và giết người. Những khách bộ hành ngang qua nơi này thường hay nghỉ chân lại nơi đây bởi vì chỉ nơi này mới có quán xá, dân cư, cũng có chỗ ăn và nơi trọ khá tươm tất. Những khách đã quyết định nghỉ lại ở nơi này, những người nào xem chừng đem theo tay nải có vẻ nằng nặng, thêm nữa là cô đơn, thì đêm đến tất sẽ có đám người tới và kéo lên trên núi, sau đó sẽ bị đẩy xuống cái hang sâu, cũng rất kín đáo ở ngay gần Kẽm Trống. Còn đối với những món đồ mà bọn chúng cướp được thì chúng sẽ xem xét công lao của người trong nhóm mà phân chia cho những huynh thứ ở trong làng. Việc đó chúng giữ rất kín kẽ. Chúng còn có những tiếng lóng để mà thay thế cho ngôn ngữ giao tiếp thông thường. Cũng từ lâu nay, cái hang núi được thiên tạo đó lại trở thành một cái giếng sâu, và cũng là mồ chôn chung của không biết bao nhiêu là mạng những người đi đường vô tội. Nhưng là bề ngoài của bọn chúng đối với vua cùng quan lại, hay là trong mắt của những người dân ở làng khác thì bọn chúng cũng vẫn chỉ là những người dân làm ăn, buôn bán lương thiện mà thôi.

Khi trông thấy đôi vợ chồng đưa bước chân vào trong quán thì bà hàng ngay lập tức chạy ra để đỡ lấy chiếc thúng khảo đang trên tay của người vợ. Bà hàng đon đả nói cười:

– Ông bà đây tới đúng dịp lắm nhé! Hôm nay đang sẵn đủ nhắm tốt cùng rượu ngon đây.

Hôm ấy là một ngày của mùa đông, vì vậy mà vừa ăn xong bữa cơm thì ngoài trời đã không thể thấy rõ mặt người nữa. Nhà hàng cũng đã chuẩn bị dọn sẵn đủ giường chiếu sạch sẽ cho hai người nghỉ ngơi. Tuy nhiên, khi cánh liếp vừa được hạ xuống thì chỉ một lát sau ở bên ngoài đường vọng vào tiếng hỏi:

– Này bà hàng, ngày mai chúng tôi có thể mượn bò được không?

– Được!

– Bò béo hay bò gầy thế?

– Bò béo.

Lúc này bà hàng cũng rất thản nhiên mà trả lời những câu hỏi kia, sau đó thì dọn dẹp lại hàng quán của mình một chút rồi cũng đi ngủ. Còn đôi vợ chồng nhà này cũng rất yên tâm là trèo lên giường, họ lấy cái tay nải để làm gối đầu, sau đó thì thiếp dần đi.

Vào đêm hôm ấy, khoảng vào canh hai thì trong quán xuất hiện mấy tên trông đều rất lực lưỡng, bọn chúng lẻn vào lúc nào không ai hay. Người chồng nho sinh họ Lê kia vẫn đang miên man với giấc mộng của mình. Bữa cơm với mấy chén rượu đã bị bỏ thêm thuốc mê khiến cho chàng ta say sưa không hay trời trăng đất sao gì nữa. Nhưng người vợ không hề đụng vào rượu thì lại tỉnh táo vô cùng. Đám cướp sấn sổ xông tới và nhét giẻ vào trong miệng của người chồng, sau đó thì cứ xềnh xệch lôi đi. Người vợ thấy vậy thì định la toán lên nhưng một tên cướp đã nhanh chóng chĩa lưỡi dao sắc bén về phía nàng. Khi thấy hắn chuẩn bị chạm đến người thì nàng vội vàng quỳ thụp xuống mà van nài:

– Xin hãy tha cho thiếp, thiếp xin cắn rơm cắn cỏ mà lạy ông. Ông hãy tha cho, nếu vậy thì thiếp sẽ nhớ ơn ông cả đời.

Khi ngọn đuốc khua tới, soi sáng khuôn mặt nàng. Tên cướp rõ ràng trông thấy nàng rất trẻ, cũng vô cùng xinh đẹp. Vẻ xinh đẹp của nàng đã khiến tên cướp kia rung động. Vậy là hắn vội giục nàng:

– Vậy thì mau đi đi. Khôn hồn thì nhớ ngậm cái mồm lại cho thật chặt. Nếu kêu thì chết ngay lập tức.

Và rồi trên đường đi, tên cướp kia đã nghĩ ra được cách để có thể được chung chăn chung gối cùng người đàn bà mang khuôn mặt xinh đẹp kia. Hắn định sẽ gửi nàng tới nhà của một trong số những thủ hạ mà hắn tin tưởng, nhờ người ấy giấu nàng thật kín, khi về thì chỉ cần trình lên cho mọi người thấy đôi hoa tai của nàng là được.

Bắt đầu từ ngày đó, tên cướp rất thường tới nơi mà hắn cất giấu người vợ mới mà không có cưới cheo của hắn. Hơn nữa, thi thoảng hắn sẽ đem tới tặng cho nàng bộ xà tích hoặc là mấy vuông lụa đẹp. Nàng ở nơi này không phải lo cái ăn hay cái mặc, mọi việc đều đã có kẻ hầu người hạ vô cùng chu tất. Tuy nhiên có một điều đó là hắn nhất quyết không cho phép nàng được bước chân ra khỏi buồng ngủ, cánh cửa kia cũng luôn luôn được đóng kín. Ngồi trong căn phòng không một tia sáng, người đàn bà xấu số chỉ đành nhắm mắt lại mà tuân theo tất cả những gì tên cướp yêu cầu, hệt như một kẻ vô hồn vậy. Ở lại đây lâu ngày, nàng dần dần có thể hiểu rõ được toàn bộ cách sinh nhai cũng như kiếm ăn của đám cường bạo này.

Tuy nhiên nàng vẫn phải luôn nuốt những giọt lệ đắng cay vào trong lòng, vẫn phải tỏ vẻ vui vẻ để mà đón tiếp chính kẻ thù đã hại chết chồng mình, giam cầm mình để hắn có thể thí cho nàng chút sự sống thừa. Nhưng là thời gian như vậy cũng chỉ kéo dài được khoảng năm tháng thì việc tên cướp lén lút giấu nàng bị bại lộ hoàn toàn. Vào ba ngày trước thì tên xã trưởng có rủ rỉ bảo hắn rằng:

– Anh nếu không lập tức hạ thủ thì sẽ có người khác tiễn chân anh cùng con mụ ấy xuống hang.

Lệ làng đã đặt ra từ lâu, mọi người sống tại nơi đây đều răm rắp tuân theo những luật lệ ấy không phản kháng. Và đương nhiên là tên cướp này cũng không cách nào để làm trái với lệ của làng được. Vậy là đêm ấy, khi cơm nước xong xuôi thì hắn liền lôi kéo nàng lên trên núi. Còn khẩn thiết hơn lần trước, nàng quỳ lạy van xin hắn vô cùng thảm thương. Nhưng là giờ phút này trái tim độc ác của tên cướp đã không cách gì để mà lay chuyển được nữa. Hắn liền bảo nàng:

– Bây giờ ta sẽ làm phúc để nàng xuống nơi suối vàng cùng chồng bầu bạn!

Khi cả hai đã gần tới nơi miệng hang thì người đàn bà đột nhiên xoay người bỏ chạy thật nhanh. Nhưng sức nàng sao có thể hơn được sức một kẻ cướp, hắn không mất nhiều thời gian để tóm được nàng. Nhưng ngay vào lúc hắn đưa tay đẩy nàng rơi xuống hang thì nàng cũng nhanh chóng tóm chặt lấy áo của hắn. Thế là cả hai đều rơi thẳng xuống nơi vực sâu. Thật may mắn cho nàng, trong lúc rơi, nàng đã nhanh tay để thả tên cướp kia ra, sau đó túm được một nhánh cây mọc ở lưng chừng vực. Sau đó nàng vô cùng khó nhọc mới có thể leo lên trên, nhờ cố gắng của mình mà sau cùng nàng đã có thể thoát được lên miệng hang. Rồi nàng nhằm hướng phía Bắc, cứ thế đi mãi, đi mãi.

Chuyện kể vào một ngày xa giá của Chúa có việc đi ngang qua nơi cửa Đại Hưng. Nhưng khi đội tiền vệ chỉ vừa mới qua được cầu bỗng nhiên người vợ của nho sinh họ Lê chạy vút lên từ dưới gầm cầu. Trên đầu nàng có đội một lá đơn màu trắng, nàng quỳ thụp ở giữa đường cái, chắn lại đoàn xa giá. Khi bị đám lính kia xua đuổi nhưng nàng cũng quyết không lùi bước, nàng vẫn chăm chú sửa lại phần vành của chiếc khăn trắng và bảo họ rằng:

– Lạy các ông, tiện thiếp đây có nỗi oan tày trời, xin các ông cho phép tôi được gặp mặt Chúa thượng để trình bày.

Chúa ngồi trong kiệu, khi nghe thấy phía trước ồn ào thì liền sai người dừng kiệu lại, sau đó kêu khổ chủ tới để hỏi rõ mọi chuyện. Sau khi nghe nàng kể lại đầu đuôi mọi sự thì Chúa vô cùng tức giận, ngay lập tức liền rút thanh bảo kiếm vẫn đeo bên người ra, rồi lệnh cho viên thám tướng của mình mang theo 2000 quân mã nữa đi gấp tới Đa Giá thượng cùng lệnh “tiền trảm hậu tấu”.

Và rồi vào hai ngày sau, một thầy lang hành nghề bán thuốc, trên vai có một cái tay nải màu đỏ rất nặng đi qua bến đò Khuốt, sau đó tiến vào trong làng. Khi chưa cả vào trong quán thì người khách đã tự tay trao cho bà hàng chiếc tay nải của mình, sau đó giục bà ta mang rượu ra cho mình. Mới ngồi uống một lát mà người khách này đã say mèm, cũng không hề nghe được cuộc trò chuyện về “bò béo bò gầy” của bà hàng quán cùng với những người đứng ở ngoài cổng kia. Và chưa cả đến giờ đi ngủ thì người khách đã bị đám cướp kia trói giật cánh, sau đó cùng điệu đi về phía cửa hàng.

Tuy nhiên, lần này không hề được suôn sẻ như những lần trước, khi bọn chúng gần tới cửa hang thì có một tiếng hô rất vang khiến cả đám cướp đều giật mình hốt hoảng. Không biết thế nào từ trong những bụi rậm một toán lính mang theo mã tấu lòe sáng xông ra, họ cởi trói cho người khách, đồng thời lấy dây thừng gô hết bọn sát nhân kia lại. Sau đó từ bốn phía dưới chân núi, cùng bốn phía ngôi làng đều vang lên tiếng reo hò, rồi tiếng trống cùng tiếng mõ kêu vang cả trời, động cả đất của những 2000 quân sĩ triều đình.

Đến ngày hôm sau thì ngôi làng Đa Giá thượng vốn là nơi trú ẩn của bọn cướp sát nhân đều bị triệt hạ hoàn toàn. Nhà cửa, cây cối, tre phe đều bị quan lính san phẳng cả. Những ruộng và đất đai thì đều được phân chia đều cho cả tỉnh, làng nào cũng được hưởng một mảnh rộng nhỏ, đến ngày nay người ta gọi nó là thửa ruộng kỳ tại. Còn bọn cướp độc ác tất cả đều bị án tử hình: Những tên đàn ông thì bị chém ngang lưng, còn những mụ đàn bà thì một số bị bỏ rọ cho trôi sông, một phần khác lại bị sung cho làm thị tì tại phủ của quan lại. Quân lính còn lục soát được một quyển sổ rất dày, trên đó có ghi rõ từng năm có bao nhiêu là bò béo cùng bò gầy, thu được bao nhiêu là vàng là bạc, bao nhiêu là tiền cùng vật hạng. Còn một số quân lính lại được giao nhiệm vụ đẵn tre để làm thang, sau đó leo xuống phía dưới hang để xúc tất cả những hài cốt của những người xấu số vô tội để mang đi thiêu hóa.

Đánh giá

BÀI HAY NÊN ĐỌC